Luận án Tiến sĩ: Phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên

Luận án phân tích sâu thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại Thái Nguyên, đề xuất các giải pháp thúc đẩy mô hình HTX hiệu quả, bền vững.

Chuyên ngành

Phát triển nông thôn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2024

211
7
4

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại Thái Nguyên

Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) tại tỉnh Thái Nguyên đang đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển. Theo khảo sát từ luận án tiến sĩ của Nguyễn Đức Quang, hiện tại các HTXNN ở Thái Nguyên chưa phát huy hết tiềm năng của mình. Tình hình chung cho thấy số lượng hợp tác xã nông nghiệp tăng về mặt lượng nhưng chất lượng hoạt động vẫn còn hạn chế. Cơ cấu thành viên, nguồn lực và khả năng tiếp cận thị trường của các HTXNN còn yếu. Nhiều hợp tác xã gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động lâu dài, với tỷ lệ giải thể và không hoạt động còn cao. Điều này đòi hỏi cần có những giải pháp mạnh mẽ để phát triển hợp tác xã nông nghiệp một cách bền vững.

1.1. Cơ cấu và quy mô HTXNN tại Thái Nguyên

Cơ cấu HTXNN tại Thái Nguyên đa dạng, bao gồm các lĩnh vực sản xuất cây trồng, chăn nuôi, lâm nghiệp và dịch vụ nông nghiệp. Quy mô của các hợp tác xã nông nghiệp biến thiên từ nhỏ đến vừa, với số lượng thành viên không đồng đều. Phần lớn HTXNN ở Thái Nguyên tập trung ở các huyện miền núi như Chợ Đồn, Tân Trào, Đại Từ. Tuy nhiên, mức độ hoạt động và hiệu quả kinh tế của các hợp tác xã này còn thấp so với mặt bằng chung.

1.2. Điểm xuất phát và động lực thành lập

Nhiều hợp tác xã nông nghiệp được thành lập dựa trên những động lực khác nhau. Một số HTXNN xuất phát từ phát triển nông thôn và cải thiện đời sống của nông dân. Những HTX khác được thành lập để tiếp cận các chính sách hỗ trợ từ nhà nước hoặc kết nối với thị trường. Tuy nhiên, động lực thực sự của hợp tác xã không phải lúc nào cũng rõ ràng, dẫn đến việc hoạt động không bền vững.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển HTXNN

Sự phát triển của hợp tác xã nông nghiệp tại Thái Nguyên bị tác động bởi nhiều yếu tố từ nội tại đến bên ngoài. Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển HTXNN bao gồm điều kiện tự nhiên, nguồn lực con người, vốn tín dụng, công nghệ và tiếp cận thị trường. Điều kiện tự nhiên ở Thái Nguyên với địa hình phức tạp và khí hậu đặc thù là thách thức lớn. Nguồn lực con người trong các HTXNN thường có trình độ thấp, thiếu kỹ năng quản lý hiện đại. Khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng khiến các hợp tác xã nông nghiệp không thể mở rộng sản xuất. Công nghệ nông nghiệp tiếp cận chậm làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của HTXNN.

2.1. Nguồn lực con người trong HTXNN

Nguồn lực con người của các HTXNN tại Thái Nguyên là điểm yếu chính. Trình độ giáo dục của thành viên và cán bộ quản lý hợp tác xã còn thấp. Tỷ lệ nông dân có bằng cấp chuyên môn trong HTXNN rất nhỏ, chủ yếu là kinh nghiệm từ thực tiễn. Thiếu những người có kiến thức về quản lý hiện đại, kế toán và tiếp cận thị trường là rào cản lớn cho phát triển hợp tác xã nông nghiệp.

2.2. Tiếp cận vốn tín dụng và đất đai

Tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các hợp tác xã nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do thiếu đảm bảo và lịch sử tín dụng yếu. Các HTXNN ở Thái Nguyên khó vay vốn từ ngân hàng với lãi suất thấp. Nguồn lực đất đai không rõ ràng về quyền sử dụng, dẫn đến không thể dùng làm tài sản thế chấp. Điều này hạn chế khả năng mở rộng sản xuất và nâng cấp công nghệ của hợp tác xã nông nghiệp.

III. Bài học kinh nghiệm từ các nước phát triển

Các nước trên thế giới như Israel, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc có những bài học kinh nghiệm quý báu từ sự phát triển hợp tác xã nông nghiệp. Phát triển HTX nông nghiệp ở Israel cho thấy vai trò của kiểm soát chất lượng kỹ lưỡng và hệ thống quản lý hiện đại. Phát triển HTX nông nghiệp ở Nhật Bản nhấn mạnh sự tập trung vào giáo dục nông dân và xây dựng thương hiệu. Phát triển nông nghiệp ở Trung Quốc chứng tỏ tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ từ nhà nước. Phát triển HTX ở Hàn Quốc tập trung vào công nghệ cao và liên kết chuỗi giá trị. Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam là cần tập trung vào chất lượng, đào tạo, chính sách và công nghệ.

3.1. Mô hình HTX Israel và Nhật Bản

Phát triển HTX nông nghiệp ở Israel dựa trên nguyên tắc kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt và chia sẻ công nghệ tiên tiến. Phát triển HTX nông nghiệp ở Nhật Bản thành công nhờ vào hệ thống đào tạo liên tục cho nông dân. Cả hai mô hình đều chú trọng vào thương hiệu và xuất khẩu sản phẩm chất lượng cao. Những hợp tác xã nông nghiệp trong các nước này có quy mô lớn nhưng vẫn duy trì các giá trị hợp tác cơ bản.

3.2. Kinh nghiệm từ Trung Quốc và Hàn Quốc

Phát triển nông nghiệp ở Trung Quốc được thúc đẩy bởi các chính sách ưu đãi và đầu tư công cộng lớn. Phát triển HTX ở Hàn Quốc tập trung vào công nghệ sinh học và tiêu chuẩn hóa sản xuất. Cả hai nước đều xây dựng các trung tâm đào tạo chuyên biệt cho hợp tác xã nông nghiệp. Kinh nghiệm này cho thấy tầm quan trọng của sự hỗ trợ nhà nước và đầu tư vào nghiên cứu phát triển.

IV. Giải pháp phát triển HTXNN bền vững tại Thái Nguyên

Để phát triển hợp tác xã nông nghiệp bền vững tại Thái Nguyên, cần có những giải pháp thúc đẩy phát triển HTX nông nghiệp toàn diện. Trước hết, cần đẩy mạnh chính sách hỗ trợ phát triển HTXNN từ nhà nước, bao gồm hỗ trợ tín dụng, thuế, và tiếp cận đất đai. Thứ hai, đầu tư mạnh vào đào tạo và nâng cao trình độ cho thành viên và cán bộ hợp tác xã. Thứ ba, xây dựng các chuỗi giá trị và kết nối thị trường cho sản phẩm của HTXNN. Thứ tư, ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Cuối cùng, tăng cường quản lý, giám sát và hỗ trợ kỹ thuật từ các cơ quan chuyên ngành để nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp tại Thái Nguyên.

4.1. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Phát triển HTX nông nghiệp đòi hỏi phải có kế hoạch đào tạo dài hạn. Cần xây dựng các chương trình đào tạo chuyên biệt về quản lý hợp tác xã, kế toán, tiếp cận thị trường và công nghệ hiện đại. Hỗ trợ nông dân trong hợp tác xã nông nghiệp để học tập thêm kỹ năng sản xuất và kinh doanh. Tạo điều kiện cho thanh niên tham gia vào HTXNN bằng các chương trình khuyến khích. Quản lý và đánh giá hiệu quả đào tạo thường xuyên.

4.2. Chính sách hỗ trợ và liên kết thị trường

Rà soát và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ phát triển HTX nông nghiệp phù hợp với tình hình Thái Nguyên. Cung cấp giải pháp thúc đẩy phát triển HTXNN thông qua hỗ trợ lãi suất tín dụng ưu đãi. Xây dựng các mối liên kết giữa hợp tác xã nông nghiệp và các doanh nghiệp để tiêu thụ sản phẩm. Hỗ trợ HTXNN tiếp cận các chương trình chứng nhận chất lượng, chứng chỉ và thương hiệu sản phẩm.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về phát triển hợp tác xã nông nghiệp 1. Khái niệm về kinh tế hợp tác Hợp tác là sự kết hợp sức mạnh của các cá nhân hoặc các đơn vị để tạo nên sức mạnh lớn hơn, nhằm thực hiện những công việc mà mỗi cá nhân, mỗi đơn vị hoạt động riêng rẽ sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được, hoặc thực hiện kém hiệu quả (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 1985, 2013). Hợp tác trong nông nghiệp đa dạng, phong phú bởi nông nghiệp luôn diễn ra trong nông thôn và trong nông thôn lại có nhiều ngành, nhiều lĩnh vực luôn tồn tại.

Sự hợp tác có thể tiến hành từ nhỏ đến lớn, từ ít đến nhiều, từ hẹp sang rộng, từ thấp đến cao. Tuy nhiên, trong xã hội luôn tồn tại các lĩnh vực hợp tác khác nhau, trình độ hợp tác khác nhau. Khi nhu cầu hợp tác ngày càng cao thì mối quan hệ hợp tác ngày càng chặt chẽ và mở rộng. Trong xu thế mới của nền kinh tế toàn cầu, sự hợp tác đã không còn bó hẹp trong phạm vi của từng quốc gia, từng khu vực mà đã là sự hợp tác toàn thế giới.

Nội dung của sự hợp tác cũng đa dạng, không chỉ là sự hợp tác trong từng lĩnh vực riêng rẽ, trong một vài vùng nhỏ lẻ mà sự hợp tác diễn ra trong nhiều lĩnh vực trong nhiều quốc gia. Kinh tế hợp tác là một phạm trù về lợi ích kinh tế do hợp tác mang lại nói lên sự liên kết tự nguyện của những người lao động, của các tổ chức, dưới nhiều hình thức, kết hợp sức mạnh của các thành viên, các tập thể để thực hiện có hiệu quả hơn các vấn đề trong sản xuất - kinh doanh và đời sống (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 1985, 2013). Khái niệm về kinh tế hợp tác trong nông nghiệp : Là phạm trù kinh tế nói lên lợi ích kinh tế do hợp tác giữa các đơn vị kinh tế trong các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế trong nông nghiệp để cùng nhau tiến hành sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp một cách có hiệu quả (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 1985, 2013). Khái niệm hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã 1.

Khái niệm hợp tác xã Theo Liên minh hợp tác xã quốc tế thì “HTX là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ 8 về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ”. Định nghĩa được bổ sung trong tuyên bố năm 1995: “Hợp tác xã dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, công bằng và đoàn kết. Theo truyền thống của những người sáng lập ra HTX, các thành viên HTX tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức và tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác”. HTX cũng có thể được định nghĩa là một doanh nghiệp thuộc sở hữu và kiểm soát đều phục vụ cho các người sử dụng dịch vụ của HTX hoặc những người làm việc ở đó (Albrecht, 2012).

Theo Luật HTX 2012 thì khái niệm HTX là: “HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX”. Theo Luật HTX 2023 thì khái niệm HTX là: “HTX là tổ chức có tư cách pháp nhân do ít nhất 05 thành viên chính thức tự nguyện thành lập, hợp tác tương trợ trong sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung về kinh tế, văn hóa, xã hội của thành viên, góp phần xây dựng cộng đồng xã hội phát triển bền vững; thực hiện quản trị tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ”. Khái niệm về liên hiệp hợp tác xã Theo Luật HTX 2012: Liên hiệp HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 HTX tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của HTX thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý Liên hiệp HTX”. Theo Luật HTX 2023: Liên hiệp HTX là tổ chức có tư cách pháp nhân do ít nhất 03 hợp tác xã là thành viên chính thức tự nguyện thành lập, hợp tác tương trợ trong sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực tham gia thị trường, góp phần xây dựng cộng đồng xã hội phát triển bền vững; thực hiện quản trị tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ.

Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp Trần Thị Thái (2017) quan niệm: “Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế của những người hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc có mối liên hệ gắn bó 9 hữu cơ với sản xuất nông nghiệp”. Tác giả tiếp cận HTXNN như là một tổ chức kinh tế nói chung, nhưng hoạt động và phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp và thành viên là những người có liên quan đến SXNN. Qua đó, tác giả đã chỉ ra giới hạn về giới hạn về thành viên, lĩnh vực hoạt động để phân biệt HTXNN với HTX nói chung ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, quan niệm này chưa đề cập đến cách thức thành lập và mục đích hoạt động, nên chưa phản ánh được đặc trưng, bản chất, giá trị của HTXNN.

Tóm lại, mặc dù có sự khác nhau về góc độ tiếp cận và phạm vi nghiên cứu, nhưng các quan niệm trên đã phản ánh được những vấn đề cơ bản và khẳng định vai trò của HTXNN đối với quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, các quan niệm trên không được xây dựng dưới góc độ tiếp cận của khoa học kinh tế chính trị và theo Luật HTX năm 2012. Theo các tài liệu lưu hành của Liên Minh HTX Quốc tế và tổ chức Lao động Quốc tế thì HTX nông nghiệp được thành lập do một nhóm nông dân thiết lập một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản) nhằm bảo vệ và thúc đẩy lợi ích chung của họ. Do các thành viên của nhóm có lợi ích (kinh tế) trong tổ chức HTX, nên họ muốn tham gia vào quá trình ra quyết định.

Hội đồng Quản trị (HĐQT) thay mặt cho các thành viên đưa ra quyết định và chịu trách nhiệm trước các thành viên về các quyết định đưa ra. Quy tắc bầu HĐQT và báo cáo lại với các thành viên thông thường được thực hiện bằng văn bản theo pháp luật (hoặc quy chế) của HTX. Theo định nghĩa trên, một HTX nông nghiệp không chỉ là một hiệp hội nông dân, mà còn là một doanh nghiệp có cơ cấu quản lý, có nhân viên, sở hữu tài sản như nhà kho, xe tải, đất đai, và nhà máy chế biến hoặc chỉ có một tòa nhà văn phòng. Những tài sản này là sở hữu của HTX, trong khi HTX là sở hữu chung của các thành viên là nông dân.

Vì thế, việc sử dụng những tài sản này được quyết định dựa trên quá trình ra quyết định mang tính dân chủ (ILO, 2008). Khái niệm chính sách, giải pháp thúc đẩy phát triển HTX nông nghiệp i) Khái niệm chính sách Hugh Heclo (1972) định nghĩa một chính sách có thể được xem như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc các hành động cụ thể. Smith (1976) cho rằng “khái niệm chính sách bao hàm sự lựa 10 chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của các lực lượng có quan hệ với nhau”. Quan niệm khác lại cho rằng chính sách là những hành động có tính toán của chủ thể để đối phó với đối tượng bị quản lý theo hướng đồng thuận hay phản đối.

Như vậy, khó có thể đưa ra một định nghĩa duy nhất đúng về chính sách. Các chính sách đôi khi có thể được nhận thấy dưới hình thức các quyết định đơn lẻ, nhưng thông thường nó bao gồm một tập hợp các quyết định hoặc được nhìn nhận như là một sự định hướng hành động cụ thể. Nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân, ban hành chính sách để mưu cầu lợi ích cho cộng đồng xã hội. Cụm từ “chính sách” khi gắn với vai trò, chức năng của “khu vực công” được gọi là chính sách công.

Chính sách thúc đẩy HTX nông nghiệp trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản là một nhóm chính sách công được ban hành nhằm hỗ trợ, khuyến khích và tạo điều kiện cho các HTX được tiếp cận với các điều kiện thuận lợi để sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Đối với các chính sách thúc đẩy phát triển HTX nông nghiệp, thì 03 cấu thành: nhóm chính sách định hướng, nhóm chính sách tạo động lực, và nhóm chính sách phòng ngừa rủi ro là 03 nhóm chính sách cần có tính đồng bộ để thúc đẩy HTX nông nghiệp trong tất cả các khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. ii) Khái niệm giải pháp Nếu như chính sách là một đường lối hay phương hướng hành động thì giải pháp được định nghĩa là phương pháp hay biện pháp giải quyết vấn đề. Giải pháp là tập hợp những phương pháp, cách thức cụ thể để xử lý từng vấn đề.

Vì vậy, để thực hiện tốt mỗi chính sách thì lại cần tập hợp những giải pháp khác nhau. Nói cách khác, giải pháp trong nghiên cứu này được hiểu là tập hợp những thông tư, nghị định từ cấp Trung ương tới địa phương nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện các chính sách một cách đúng đắn và có hiệu quả. Giải pháp thúc đẩy phát triển HTX nông nghiệp bao gồm một chuỗi những biện pháp và hành động cụ thể được thực hiện bởi các cơ quan quản lý và các cấp chính quyền địa phương để giúp các HTX phát triển một cách thuận lợi và thành công vào quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Chuỗi giải pháp đó có 11 thể bao gồm những giải pháp hành chính, giải pháp kinh tế, giải pháp về tuyên truyền giáo dục hay những giải pháp hướng dẫn thực hiện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ