Chương 1: Tổng quan + Chương 2: Bền vững chân không trong mô hình chuẩn + Chương 3: Một số ràng buộc từ điều kiện dương xác định cho ma trận khối lượng của mô hình 3-3-1 với cơ chế CKS 1.2 Các trường Higgs Những năm 50, 60 của thế kỷ trước, các nhà vật lý đã phát triển lý thuyết chuẩn dựa trên sự bất biến với nhóm chuẩn định xứ. Lý thuyết này yêu cầu sự tồn tại của một trường vectơ thực, không khối lượng, đóng vai trò của trường truyền tương tác. Điện động lực học lượng tử là lý thuyết luan an 6 chuẩn giao hoán dựa trên nhóm chuẩn U (1)Q mô tả tương tác điện từ của các hạt mang điện với trường truyền tương tác là photon (ánh sáng) không có khối lượng. Do bán kính r tỷ lệ nghịch với khối lượng m của hạt truyền tương tác (r ∝ 1/m) nên tương tác điện từ là tương tác tầm xa (r = ∞).
Với thành công vang dội của điện động lực học lượng tử, các nhà vật lý muốn mở rộng lý thuyết chuẩn cho tương tác yếu là tương tác tầm gần có bán kính tương tác hữu hạn (tức m ̸= 0). Trước đó nhà vật lý gốc Nhật Yoichiro Nambu, chủ nhân giải thưởng Nobel, đã đề xuất lý thuyết phá vỡ đối xứng tự phát, tiên đoán về một loại trường không khối lượng, trường Goldstone. Sau này người ta thấy đây là tiên đoán sai. Higgs viết bài báo ngắn đăng trên Physics Letters giải thích về việc không tồn tại trường Goldstone.
Bài báo thứ hai trình bày mô hình lý thuyết, mà bây giờ có tên gọi là cơ chế Higgs nổi tiếng, đã bị Physics Letters từ chối. Ông gửi cho Physical Review Letters và được đăng vào năm 1964. Tại thời điểm đó, các nhà vật lý khác Robert Brout, François Englert, Gerald Guralnik, C. Hagen và Tom Kibble cũng có kết luận tương tự.
Cơ chế Higgs đã cho ta cách tạo ra khối lượng cho các trường chuẩn và hơn thế nữa các lý thuyết chuẩn thu được là tái chuẩn hóa được. Boson Higgs, hạt còn sống sót sau khi phá vỡ đối xứng tự phát, được nhắc tới trong các tài liệu nhiều nhất hiện nay. Ngày 4 tháng 7 năm 2012, Trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu thông báo các thí nghiệm ở đó đã phát hiện ra hạt giống hạt Higgs có khối lượng126 GeV. Đây là hạt chủ đạo đóng vai trò quan trọng trong việc sinh khối lượng cho các hạt cơ bản.
Để hiểu tại sao người ta phải đưa vào các trường Higgs, ta sẽ trình bày ngắn ngọn về mô hình này.1 Tóm tắt về mẫu Glashow-Weinberg-Salam Như ta đã nói ở trên, MHC mô tả tương tác mạnh, tương tác yếu và tương tác điện từ. Tương tác mạnh dựa trên nhóm chuẩn SU (3)C , còn tương tac yếu và tương tác điện từ được thống nhất bởi mẫu Glashow- Weinberg-Salam (GWS) với nhóm chuẩn là SU (2)L ⊗ U (1)Y. Trong luận văn này tôi chỉ trình bày về mẫu Glashow-Weinberg-Salam Trong mẫu GWS, các fermion phân cực trái biến đổi như lưỡng tuyến dưới nhóm SU (2)L , trong khi các fermion phân cực phải biến đổi như đơn tuyến dưới nhóm SU (2)L. Trong mẫu GWS, toán tử điện tích được xác định như sau YW Q = T3 + , 2 với T3 là vi tử chéo của nhóm SU (2)L , Y W là siêu tích yếu.
Với các trường biến đổi đơn tuyến dưới nhóm SU (2)L thì siêu tích của đơn tuyến bằng hai lần điện tích của hạt trong đơn tuyến đó. Các trường biến đổi lưỡng tuyến dưới nhóm SU (2)L thì siêu tích của lưỡng tuyến bằng tổng điện tích của các hạt trong lưỡng tuyến đó [1]. Cụ thể, các hạt trong MHC được sắp xếp dưới nhóm chuẩn như sau: Với các lepton: ( ) νaL ψaL = ∼ (1, 2, −1), eaL eaR ∼ (1, 1, −2), a = 1, 2, 3.1) Với các quark: ( () ) uaL 1 QaL = ∼ 3, 2, , daL 3 ( ) ( ) 4 2 uaR ∼ 3, 1, , daR ∼ 3, 1, − , (1.2) 3 3 trong đó a là chỉ số thế hệ. Hai số đầu tiên trong móc đơn là số thành luan an 8 phần trong đa tuyến của nhóm SU (3)C và SU (2)L , còn số cuối cùng là siêu tích yếu của đa tuyến.2 Khối lượng của các trường trong mẫu GWS Quy luật biến đổi của các đa tuyến dưới phép biến đổi chuẩn như sau ∑3 ′ ′ ′ −ig e−ig YΦ ω (x) Φ(x) .3) Theo công thức (1.3), ta có ∑3 ′ ′ ′ −ig σa ψaL (x) → ψaL (x) = e a=1 2 ωa (x) eig ω (x) ψaL (x), ′ ′ eaR (x) → e′aR (x) = e2ig ω (x) eaR (x), (1.4) trong đó ta đã sử dụng kết quả của công thức (1.
Chú ý rằng khối lượng Dirac của các fermion có dạng mψ̄ψ = m(ψ̄L ψR + ψ̄R ψL ) .5) Từ công thức (1.4), ta thấy các fermion ban đầu không thể có khối lượng, do thành phần trái và phải biến đổi khác nhau. Hơn nữa các trường chuẩn cũng không có khối lượng. Chính vì thế, mô hình kể trên không thể mô tả đúng thế giới vật chất. Để giải quyết vấn đề này người ta phải đưa vào trường Higgs.
Để sinh khối lượng cho các hạt gauge boson và các fermion trong mô hình, người ta phải đưa vào lưỡng tuyến Higgs để thực hiện phá vỡ đối xứng tự phát. Lưỡng tuyến Higgs trong MHC: ( ) + φ ϕ= ∼ (1, 2, 1).6) 0 φ Thế năng tổng quát của trường Higgs có dạng [1] V (ϕ) = −µ2 ϕ+ ϕ + λ(ϕ+ ϕ)2 , (1.7) luan an 9 Hình 1.1: Hình vẽ cho thấy ở cực tiểu thấp hơn cho khối lượng của trường khác không Chú ý rằng µ không phải là khối lượng của trường ϕ vì không có dấu thích hợp. µ chỉ là tham số có thứ nguyên khối lượng. Ta vẽ thế năng V (ϕ) như hàm của trường Higgs theo hình 1.1 Điều đặc biệt của trường Higgs là thành phần trung hòa về điện φ0 trong (1.6) có trung bình chân không khác không, khác với các trường vật lý thông thường có điều trên bằng không.
Chính điều này sẽ tạo ra khối lượng của các fermion và trường chuẩn. Lưu ý rằng, chỉ bằng cách cho trường vô hướng trung hòa có trung bình chân không khác không mới tạo ra khối lượng cho các trường chuẩn.3 Cơ chế Higgs Khai triển trường Higgs xung quanh trị trung bình chân không: ( ) + φ ϕ= v+h(x)+ia(x). √ 2 Điều√kiện cực tiểu thế dẫn đến nghiệm của trị trung bình chân không µ2 v= , với µ2 > 0, λ > 0. λ Như vậy ta đã chọn phần thực có trung bình chân không khác không v một cách tự phát.
Ta minh họa điều trên như sau: Con bò đi trên con luan an 10 đường hai bên đều có bó cỏ (đối xứng), khi con bò ghé sang bên nào ăn bó cỏ thì ta có sự tự phát. Như ta đã nói ở trên, với việc cho trường Higgs có trung bình chân không khác không sẽ dẫn đến việc các boson chuẩn có khối lượng. Dưới đây ta sẽ làm sáng tỏ việc này.1 Sinh khối lượng cho các trường chuẩn Lagrangian toàn phần của lưỡng tuyến Higgs có dạng LH = (Dµ ϕ)† Dµ ϕ − V (ϕ), (1.9) Ở đây, đạo hàm hiệp biến có dạng: [ ] ∑3 σa i ′ Dµ ϕ = ∂µ − ig Aµa − g Bµ ϕ.10) a=1 2 2 trong đó g và g ′ là hằng số tương tác ứng với nhóm SU (2)L và U (1)W Y , tương tự Aµa và Bµ là các trường chuẩn ứng với nhóm SU (2)L và U (1)Y [1]. Để cho thuận lợi, ta viết lại lưỡng tuyến Higgs như sau ( ) ( ) ( ) + + φ 0 φ ϕ= v+h(x)+ia(x) = v + h(x)+ia(x) ≡ ⟨ϕ⟩ + ϕp , (1.11) √ √ √ 2 2 2 trong đó trung bình chân không (VEV) của trường Higgs có dạng ( ) 1 0 ⟨ϕ⟩ = √ 2 v và lưỡng tuyến Higgs vật lý với VEV bằng không là ( ) + φ ϕp = h(x)+ia(x).
√ 2 luan an 11 Hình 1.2: Thế Higgs như hàm của thành phần thực [h(x)] và ảo [a(x)] của trường ϕ Từ biểu thức toán tử điện tích với Y W = 1, ta có ngay Q⟨ϕ′ ⟩ = 0. và như vậy điện tích được bảo toàn. Hay nói khác đi sau khi phá vỡ đối xứng tự phát ta còn lại nhóm U (1)Q. Các vi tử I1 , I2 và I3 − Y2 = 2I3 − Q bị phá vỡ và các boson chuẩn tương ứng sẽ có khối lượng.
Thay khai triển (1.12) trong đó · · · chứa các phần liên quan tới phần động năng và liên kết của các trường Higgs vật lý ϕp [1]. Các nghiên cứu cho thấy khối lượng của các trường chuẩn được cho luan an 12 bởi số hạng đầu tiên trong (1.12) Lmass = (Dµ ⟨ϕ⟩)† Dµ (⟨ϕ⟩) ( )( )( ) 2 2 + +µ g v 0 Wµ 0 W 0 = (0, 1) 4 Wµ− 0 W −µ 0 1 ( ) v2 gA3µ + g ′ Bµ 0 + (0, 1) 8 0 gA3µ + g ′ Bµ ( )( ) gA3µ + g ′ B µ 0 0 × 0 −gA3µ + g ′ B µ 1 g 2 v 2 − µ+ v 2 1 = Wµ W + (gA′3 ′ 2 2 − µ − g Bµ ) = mW Wµ W µ+ + m2Z Zµ Z µ 4 8 2 trong đó ta đã thu được khối lượng của W boson 2 g2v2 gv mW = , hay mW = (1.13) 4 2 Để thu được khối lượng của Z boson ta phải chéo hóa ( )( 3 ) 1 2 ( ) g 2 −gg ′ A′ µ µ v2 ′ 3µ µ m Zµ Z = 8 A B 2 Z −gg ′ g 2 Bµ ( )( ) ( ) m2 0 Zµ 1 Z = 2 Z µ Aµ .14) 0 0 Aµ Chéo hóa ma trận khối lượng bằng ma trận trực giao Zµ = cos θW A′3 µ − sin θW Bµ Aµ = sin θW A′3 µ + cos θW Bµ (1.15) và thu được khối lượng của Z boson g2v2 gv mW m2Z = , hay m Z = = (1.16) 4 cos2 θW 2 cos θW cos θW Trường Aµ vẫn không có khối lượng và được đồng nhất với photon. Như vậy các trường chuẩn mang điện W ± và trường trung hòa Z đã có khối lượng, còn photon A vẫn không có khối lượng như ta mong đợi.2 Khối lượng của các lepton và quark Ta sẽ sử dụng tương tác Yukawa như sau: i) Cho các lepton ( ) LlY uk = −he L̄e ϕRe + R̄e ϕ+ Le ∼ (1, 0), do ∼ (2̄, 1)(2, 1)(1, −2) ∼ (1, 0), (1, 2)(2̄, −1)(2, −1) ∼ (1, 0).