Chương 1: Tổng quan. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết. - Chương 3: Xây dựng mô hình bài toán. - Chương 4: Khảo sát hàm hấp thu tổng quát.
- Kết luận và kiến nghị. - Tài liệu tham khảo. Trang 5 Luan van Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về tia X Tia X quang được phát hiện vào năm 1895 bởi Rontgen, một nhà vật lý người Đức. Không giống với ánh sáng thông thường, các tia X không nhìn thấy được nhưng chúng di chuyển theo đường thẳng và tác dụng lên các tấm phim như ánh sáng.
Hơn nữa, tia X có khả năng xuyên qua giấy, gỗ, phần mềm của cơ thể và các vật chắn sáng khác. Tia X quang là bức xạ điện từ như ánh sáng tự nhiên nhưng có bước sóng ngắn o hơn. Đơn vị đo của tia X là angstrom ( A 1010 m ), tia X dùng trong nhiễu xạ có o bước sóng xấp xỉ 0.5 A , trong khi đó ánh sáng nhìn thấy có bước sóng o 6000 A. Tia X được phát ra khi các hạt mang điện chuyển động bị hãm lại đột ngột, các điện tử thường được sử dụng cho mục đích này.
Tia X được tạo ra trong một ống tia X có chứa nguồn điện tử và hai điện cực kim loại. Điện thế cao được tạo ra giữa các cực, khoảng 10.000 V, các điện tử sẽ bay tới cực dương hay mục tiêu và va chạm với vận tốc cao. Tia X được tạo ra tại điểm va chạm và phát tán đi mọi hướng. Hầu hết năng lượng chuyển động của electron va chạm vào mục tiêu sẽ chuyển thành nhiệt, ít hơn một phần trăm năng lượng này được tạo thành tia X.[6] Khi các tia phát ra từ mục tiêu được phân tích thì chúng gồm hỗn hợp các bước sóng khác nhau và sự thay đổi của cường độ và bước sóng phụ thuộc vào điện thế ống phát.
Trang 6 Luan van 1.2 Lịch sử của tia X - Năm 1912, Max Von Laue đã đề xuất một thí nghiệm nhằm kiểm tra bản chất sóng của các tia X. Von Laue đã chỉ ra rằng nếu tia X có bước sóng gần bằng với khoảng cách d giữa các mặt phẳng nguyên tử trong các tinh thể, khi đó các sóng tia X đập vào tinh thể sẽ làm xuất hiện các hiệu ứng giao thoa. - Năm 1935 lần đầu tiên Le Galley chế tạo máy phát tia X đo tinh thể ở cấu trúc dạng bột. - Năm 1947, Phillip lần đầu tiên giới thiệu rộng rãi và bán máy nhiễu xạ đo tinh thể có cấu trúc dạng bột.
- Vào đầu những thập niên 50 máy đo nhiễu xạ dạng bột dùng rộng rãi để nghiên cứu những vật liệu có cấu trúc chưa hoàn chỉnh. - Năm 1969 Rietveld đã phát triển phương pháp phân tích dãy dữ liệu nhiễu xạ có cấu trúc dạng bột. - Năm 1977 Cox, Young, Thomas và các tác giả khác lần đầu tiên ứng dụng phương pháp Rietveld về bức xạ tia X.3 Tạo tia X Tia X phát sinh khi các điện tử hoặc các hạt mang điện khác bị hãm bởi một vật chắn và xuất hiện trong các quá trình tương tác giữa bức xạ với vật chất. Thông thường để tạo tia X người ta sử dụng điện tử vì để gia tốc điện tử đòi hỏi cường độ điện trường nhỏ hơn so với trường hợp dùng các loại hạt mang điện khác.
Để có tia X có bước sóng cực ngắn công suất lớn có thể sử dụng bêtatron. Trong một số trường hợp nghiên cứu cấu trúc bằng tia Rơntgen người ta còn sử dụng các nguồn đồng vị phóng xạ. Tia X được tạo ra trong ống phát Rơntgen gồm hai cực điện trong buồng chân không như được chỉ ra trong hình 1. Các điện tử được sinh ra do nung nóng catot nhiệt vonfram.
Catot có điện áp âm cao và các điện tử được tăng tốc về phía anot thường nối đất. Các điện tử với vận tốc lớn tới đập vào anot được làm nguội bằng Trang 7 Luan van nước. Sự tổn hao năng lượng của điện tử do va chạm với anot kim loại được chuyển thành tia X. Thông thường chỉ khoảng một phần trăm năng lượng (<1%) của tia điện tử chuyển thành tia X, phần lớn bị tiêu tán dưới dạng nhiệt tại anot kim loại được làm lạnh.1: Sơ đồ giới thiệu các thành phần chính của ống phát tia X.4 Đặc điểm đƣờng bức xạ Hình 1.2: Sơ đồ phổ tia X của Molipđen với thế tăng tốc khác nhau.[6] Trang 8 Luan van Nếu thế tăng tốc dùng từ ống phóng điện tử tia X được gia tăng thì cường độ dòng cực đại xếp chồng lên nhau sẽ xuất hiện hiện tượng quang phổ, đường cường độ dòng cực đại ở đây gọi là đường đặc tính bức xạ như hình 1.
Phổ tia X của Molipđen được giới thiệu trong hình 1.2, là một phổ bao gồm một dãi bước sóng. Với mỗi thế tăng tốc - thế đặt giữa catod và anod, ta thu được một phổ tia X liên tục gồm nhiều bước sóng khác nhau. Phổ liên tục là do các điện tử mất năng lượng do một loạt va chạm với các nguyên tử anod. Vì mỗi điện tử mất năng lượng của nó theo một cách khác nhau nên phổ năng lượng liên tục hay các bước sóng tia X được tạo thành.
Nếu một điện tử mất toàn bộ năng lượng trong một va chạm với một nguyên tử bia thì tạo ra một photon tia X có năng lượng lớn nhất hay bước sóng ngắn nhất. Bước sóng này gọi là giới hạn sóng ngắn ( SWL ) như trong hình 1.2 cho bia Molipđen va chạm với các điện tử 25keV.5 Ứng dụng của tia X Tia X được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành: y học, địa chất, hoá học, vật liệu học, môi trường. Từ khi có tia X, có một ngành khoa học mới xuất hiện liên quan đến nghiên cứu vật liệu nhờ tia X đó là ngành phân tích X-quang. Theo đặc điểm ứng dụng, phân tích X-quang được chia thành ba ngành: phân tích cấu trúc bằng tia X, phân tích phổ tia X và tìm khuyết tật bằng tia X.3: Ứng dụng của tia X.
Ảnh chụp cơ thể bằng tia X (trái), máy quét an ninh tại sân bay (giữa), máy rà bom mìn bằng tán xạ X quang (phải). Trang 9 Luan van Phân tích cấu trúc bằng tia X: Phân tích cấu trúc theo các ảnh nhiễu xạ tia X khi nó tán xạ trên chất kết tinh, qua đó có thể nghiên cứu sự sắp xếp các nguyên tử trong tinh thể. Nhờ phân tích cấu trúc bằng tia X mà người ta còn có thể nghiên cứu giản đồ trạng thái của các hợp kim, xác định ứng suất dư, kích thước và phương ưu tiên của các hạt tinh thể, nghiên cứu sự phân hủy của các dung dịch rắn bão hòa v.v… a) Máy phân tích thành phần hợp kim b) Máy phân tích khuyết tật mối hàn Hình 1.4: Ứng dụng của tia X.6 Các nghiên cứu hàm hấp thu trƣớc đây Hệ số hấp thụ khi nhiễu xạ lên bề mặt phẳng được Cullity tìm ra khi tiến hành nhiễu xạ tia X lên một mẫu phẳng. Hệ số hấp thụ này phụ thuộc vào chiều dài của tia tới và tia nhiễu xạ đi qua trên bề mặt vật mẫu.[6] Ở đây tia X có bề rộng là 1cm, sẽ chiếu lên một mặt phẳng vật mẫu, khi đo bên trong của vật mẫu sẽ nhiễu xạ tại một nguyên tử nào đó cách bề mặt là một khoảng x, có bề dày là dx và chiều dài phân tử đó nhiễu xạ là L (hình 1.
Trang 10 Luan van Hình 1.5: Nhiễu xạ lên mẫu phẳng Khi đó cường độ nhiễu xạ trên mặt phẳng sẽ là: dID = Io abe-2(AB + BC ) dV (1.1) Với a: hê ̣ số tính chấ t của vâ ̣t liê ̣u (phụ thuộc loại vật liệu) b: hệ số phần năng lượng tia tới trên một đơn vị thể tích (phụ thuộc vào đặc tính tia X ví dụ như : Cr-K, Cr-K, Cu-K, Co-K .) AB + BC: chiều dài tia tới đến phân tử bị nhiễu xạ và đi ra ngoài dV : thể tích phân tố bị nhiễu xạ. Ở đây ta có : 1 x x L AB BC (1.2) sin sin sin abIo -(1/sin + 1/sin) Suy ra dID = e dx (1.3) sin Đây là công thức cường độ nhiễu xạ bị hấp thụ trên bề mặt phẳng mà Cullity đã chứng minh. Từ công thức (1.3)Koistinentìm ra công thức hàm hấp thu tia X lên một mặt phẳng với phương pháp đo kiểu cố định góc áp dụng cho vật liệu đẳng hướng: A 1 tan cot (1.4) Trang 11 Luan van Xuất phát từ những nghiên cứu trên, trong luận văn Tiến sĩ, TS. Lê Chí Cương đã nghiên cứu hàm hấp thu cho các phương pháp đo và khi giới hạn và không giới hạn diện tích nhiễu xạ.[8] Phương Giới hạn diện tích bị nhiễu xạ pháp đo Cố định Không giới hạn Có giới hạn Ψo 1-cot(-o)cot coso [1-cot(-o)cot] Iso- Ψ 1-tancot sin(+)[1-tancot] o 1+tan(-o)cot cos sino [1+tan(-o)cot] Side- 1 cos sin Đây là các kết quả nghiên cứu hoàn thiện, được tính toán trên vật mẫu phẳng với nhiều phương pháp khác nhau.
Các kết quả này là cơ sở lý luận, nền tảng cho các nghiên cứu sau này. Tác giả đã vận dụng kiến thức này vào trong quá trình thực hiện đề tài. Taizo Oguri đã tiến hành nghiên cứu nhiễu xạ trên bề mặt trụ bằng phương pháp đo kiể u cố định góc o, trong đó diện tích nhiễu xạ bị giới hạn bởi một tấm phẳng.6: Dùng phương pháp đo kiểu cố định góc o Trang 12 Luan van Trong đó, r: bán kính tại phân tố nhiễu xạ. R: bán kính hình trụ : góc quét (giới hạn vùng nhiễu xạ), phụ thuộc vào bề rộng 2.
: góc tạo bởi tia tới và phương ngang. : góc tạo bởi tia nhiễu xạ và phương ngang : góc nhiễu xạ. Taizo Oguri đã chứng minh được cường độ nhiễu xạ sin( ) Lc ( r , ) dI = ab Ioe rdrd (1.8) Với :Lc(r, ): chiề u dài thẩ m thấ u của tia tới và nhiễu xa ̣ đi ra ngoài mẫu đo , phụ thuộc vào hai yếu tố là r và . Ngoài ra ông còn đo thực nghiệm khi thay đổi 2 và ψ Hình 1.7: Cường độ nhiễu xạ trên bề mặt trụ Trang 13 Luan van Nhận xét : Kích thước càng lớn thì bề rộng trung bình của vùng nhiễu xạ càng nhỏ.
Taizo chỉ khảo sát góc nhiễu xạ 2 nằm trong khoảng 152o đến 170o.