Luận án tiến sĩ vật lý học nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của vật liệu tổ hợp trên cơ sở bột cao su phế liệu và polypropylen

Luận án tiến sĩ vật lý học nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất vật liệu tổ hợp từ bột cao su phế liệu và polypropylen, ứng dụng tiềm năng trong công nghiệp.

Chuyên ngành

Hóa lý - Hóa lý thuyết

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2004

44
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái quát chung và hiện trạng công nghệ tái sử dụng CSPT

1.2. Yêu cầu thực tế về tái sử dụng cao su cũ và cao su phế thải

1.3. Những biện pháp tái sử dụng cao su cũ và cao su phế thải. Quá trình tổ hợp cao su với nhựa nhiệt dẻo. Cơ sở lý thuyết - Nhiệt động học quá trình trộn lẫn. Tổ hợp cao su với nhựa nhiệt dẻo - quá trình khâu lưới

1.4. Sử dụng cao su dien làm thành phần cao su và polypropylen

1.5. Sử dụng bột cao su làm thành phần cao su phân tán trong nhựa nhiệt dẻo

1.6. Sự tương hợp giữa nhựa nhiệt dẻo và cao su. Sự hoạt hóa của các thành phần polyme. Sự gắn kết của các thành phần hoạt hóa. Peroxit và các phụ gia kèm theo. Sự tương hợp giữa pha polyolefin liên tục và bột cao su phân tán

1.7. Quá trình tổ hợp kèm theo phản ứng hoá học của bột cao su và polypropylen. Thành phần chính để chế tạo vật liệu elastomeric alloy

1.8. Hệ cho và nhận gốc tự do. Chất cho gốc tự do

1.9. Chất nhận gốc tự do. Các phụ gia đi kèm

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Chế tạo vật liệu elastomeric alloy bằng phương pháp trộn nóng chảy

2.2. Sự ổn định động. Thiết bị trộn Brabender - Plastograph. Những nghiên cứu về độ nhớt. Gia công vật liệu elastomeric alloy. Các phương pháp thử nghiệm vật liệu. Thử nghiệm bằng phương pháp cơ học. Các thử nghiệm cơ học động

2.3. Phân tích nhiệt vi sai quét DSC

2.4. Phân tích nhiệt cơ động học. Khảo sát bằng kính hiển vi điện tử quét. Sự gắn kết pha giữa bột cao su và polypropylen. Sự hoạt hoá pha phân tán và pha liên tục. Các điều kiện chế tạo và gia công

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Chế tạo vật liệu elastomeric alloys. Bằng chứng về sự gắn kết pha giữa bột cao su và polypropylen

3.2. Phân tích DMTA. Kết quả khảo sát bằng các phương pháp cơ học. Kết quả khảo sát bằng các phương pháp cơ học động. Kết quả khảo sát độ nhớt. Kết quả khảo sát cấu trúc hình thái học bằng kính hiển vi điện tử

3.3. Ảnh hưởng của thành phần các cấu tử đến tính chất cơ lý của vật liệu

3.4. Ảnh hưởng của nồng độ peroxit. Ảnh hưởng của chất nhận gốc tự do. Ảnh hưởng của hàm lượng và kích thước hạt bột cao su. Ảnh hưởng của điều kiện công nghệ đến tính chất cơ lý của vật liệu

3.5. Ảnh hưởng nhiệt độ gia công. Ảnh hưởng của nhiệt độ khuôn ép. Ảnh hưởng của tốc độ quay của vít đùn. Ảnh hưởng của áp lực ép phun. Thử nghiệm khí hậu tự nhiên ở Việt Nam. Sự thay đổi tính chất cơ lý. Kết quả phân tích nhiệt TMA

3.6. Sự thay đổi cấu trúc hình thái học

KẾT LUẬN

Những công trình đã công bố trong thời gian làm luận án

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Điều kiện thí nghiệm

Phụ lục 2: Sự thay đổi cấu trúc bề mặt của polypropylen

Phụ lục 3: Sự thay đổi cấu trúc bề mặt của elastomeric alloy

Phụ lục 4: Qui hoạch hoá thực nghiệm theo chuẩn Fisher

Tóm tắt

I. Vật liệu tổ hợp từ bột cao su phế liệu và polypropylen

Nghiên cứu tập trung vào vật liệu tổ hợp được chế tạo từ bột cao su phế liệupolypropylen. Vật liệu composite này kết hợp tính chất đàn hồi của cao su tái chế với độ bền cơ học của polypropylen. Chế tạo vật liệu này đòi hỏi quy trình kỹ thuật phức tạp, bao gồm trộn lẫn, gia công nhiệt và tạo hình. Tính chất vật liệu được khảo sát kỹ lưỡng, bao gồm độ bền kéo, độ đàn hồi và khả năng chịu nhiệt. Vật liệu từ phế liệu này không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

1.1. Quy trình chế tạo vật liệu tổ hợp

Quy trình chế tạo vật liệu bắt đầu với việc nghiền nhỏ cao su phế thải thành bột cao su phế liệu. Sau đó, bột cao su được trộn với polypropylen trong máy trộn Brabender. Quá trình này được thực hiện ở nhiệt độ và áp suất được kiểm soát chặt chẽ. Kỹ thuật chế tạo bao gồm việc sử dụng các chất phụ gia như peroxit để tăng cường liên kết giữa các pha. Kết quả là vật liệu tổ hợp có cấu trúc đồng nhất và tính chất cơ lý ổn định.

1.2. Tính chất cơ học và nhiệt của vật liệu

Tính chất cơ học của vật liệu tổ hợp được đánh giá thông qua các thử nghiệm kéo, nén và va đập. Kết quả cho thấy vật liệu có độ bền kéo đứt cao và khả năng chịu lực tốt. Tính chất nhiệt được khảo sát bằng phương pháp phân tích nhiệt vi sai (DSC) và phân tích nhiệt cơ động học (DMTA). Vật liệu thể hiện khả năng chịu nhiệt tốt, với nhiệt độ chuyển thủy tinh (Tg) và nhiệt độ nóng chảy (Tm) ổn định. Vật liệu bền vững này có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp.

II. Ứng dụng và giá trị thực tiễn của vật liệu tổ hợp

Vật liệu tổ hợp từ bột cao su phế liệupolypropylen có nhiều ứng dụng thực tiễn trong các ngành công nghiệp. Vật liệu này được sử dụng để sản xuất các sản phẩm như tấm lót sàn, vật liệu cách nhiệt và các chi tiết máy. Vật liệu từ phế liệu không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn góp phần giảm thiểu lượng rác thải cao su ra môi trường. Nghiên cứu vật liệu này cũng mở ra hướng phát triển mới trong việc tái chế và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên.

2.1. Ứng dụng trong công nghiệp xây dựng

Trong ngành xây dựng, vật liệu tổ hợp được sử dụng để sản xuất các tấm lót sàn và vật liệu cách nhiệt. Tính chất vật lý của vật liệu, bao gồm độ bền và khả năng chịu nhiệt, làm cho nó trở thành lựa chọn lý tưởng cho các ứng dụng này. Vật liệu composite này cũng có khả năng chống mài mòn và chịu được các điều kiện thời tiết khắc nghiệt, giúp kéo dài tuổi thọ của sản phẩm.

2.2. Ứng dụng trong công nghiệp sản xuất ô tô

Trong ngành công nghiệp ô tô, vật liệu tổ hợp được sử dụng để sản xuất các chi tiết máy và phụ tùng. Tính chất cơ học của vật liệu, bao gồm độ bền kéo và khả năng chịu lực, làm cho nó phù hợp với các ứng dụng yêu cầu độ bền cao. Vật liệu từ polypropylen cũng có khả năng chịu nhiệt tốt, giúp cải thiện hiệu suất và độ bền của các chi tiết máy trong điều kiện làm việc khắc nghiệt.

III. Kết luận và hướng phát triển

Nghiên cứu đã chứng minh rằng vật liệu tổ hợp từ bột cao su phế liệupolypropylen có nhiều tiềm năng ứng dụng trong các ngành công nghiệp. Vật liệu composite này không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn góp phần bảo vệ môi trường thông qua việc tái chế cao su phế thải. Nghiên cứu vật liệu này cũng mở ra hướng phát triển mới trong việc tạo ra các vật liệu bền vững và thân thiện với môi trường. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc cải thiện tính chất hóa họctính chất vật lý của vật liệu để mở rộng phạm vi ứng dụng.

3.1. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao trong việc tái chế và sử dụng hiệu quả cao su phế thải. Vật liệu tổ hợp được tạo ra không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn góp phần giảm thiểu lượng rác thải ra môi trường. Ứng dụng vật liệu tổ hợp trong các ngành công nghiệp cũng giúp cải thiện hiệu suất và độ bền của sản phẩm, mang lại lợi ích kinh tế và môi trường.

3.2. Hướng phát triển trong tương lai

Hướng phát triển trong tương lai có thể tập trung vào việc cải thiện tính chất hóa họctính chất vật lý của vật liệu tổ hợp. Nghiên cứu có thể mở rộng sang việc sử dụng các loại cao su tái chế khác hoặc kết hợp với các loại nhựa nhiệt dẻo khác để tạo ra các vật liệu composite mới với tính chất ưu việt hơn. Vật liệu bền vững này có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TONG QUAN 1. Khái quát chung và hiện trạng công nghệ tái sử dụng CSPT: 1.1 Yêu cầu thực tế về vấn đề tái sử dụng cao su cũ và cao su phế thải: Hàng năm có hàng triệu tấn cao su tự nhiên (CSTN) và cao su tổng hợp (CSTH) được sử dụng trong sản xuất, chủ yếu là chế tạo các loại săm lốp. Đồng thời với quá trình gia tăng sản lượng CSTN, ngày càng sản sinh ra nhiều CS phế thải từ ngành công nghiệp chế tạo lốp ôtô. Đó chính là áp lực đối với những người hoạch định chính sách cần phải đưa ra luật về môi trường và rác thải chặt chẽ va gắt gao hơn.

Việc lưu trữ lốp ôtô cũ không thể là biện pháp lâu dài, còn việc đốt CS cũ cần phải nghiêm cấm vì gây ô nhiễm môi trường. CS cũ và CS phế thải là nguyên liệu thứ cấp nên cần phải được ưu tiên tái chế hơn là việc tiêu huỷ. Việc tái chế CSPT không nên thực hiện khi gây ra ô nhiễm nhiều hơn là quá trình tiêu huy[97]. Theo con số thống kê năm 2000 tổng sản lượng CS phế thai của cả thé giới là 13 triệu tấn, trong đó Châu Âu là 9 triệu tấn và Đức là 4 triệu tấn.

Việc lưu trữ một khối lượng lớn như vậy không phải là biện pháp tối ưu. Quá trình tái chế CS phế thải hiện nay hãy còn rất nhỏ so với khối lượng nêu trên. Căn cứ vào khối lượng, ching loại, thành phần va chất lượng của rác thải CS thiên về mặt nào mà chúng ta cần phải đưa ra biện pháp sử lý hợp lý để tạo ra sản phẩm tận dụng được những đặc tính vốn có của vật liệu CS được giữ nguyên hay được nâng cao những tính chất này ở vật liệu tái chế. Điều đó có nghiã là tính chất của vật liệu đó hầu như không thể nâng cao hơn được nữa bằng cách bổ xung thêm các thành phần khác[52,53,54].

CSPT được nghiền thành bột có kích thước nhỏ và đưa vào nguyên liệu dau như chất độn thu động đến 40% làm ha đáng kể giá thành sản phẩm, nhưng 19 độ bền lại không thay đổi. Qua kết quả sử dụng sản phẩm có BCS phế thải cho thấy sản phẩm không những không thay đổi về độ bền mà còn có phần được cải thiện thể hiện ở tuổi thọ của sản phẩm được nâng cao hơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy BCS không phải là chất độn thụ động mà có tham gia vào phản ứng hoá học và có tác dụng như một chất phụ gia gia cường có tính đàn hồi co dãn và khái niệm elastomeric alloy ra đời và nó đồng nghĩa với khái niệm polyme alloy[98]. Khái niệm polyme alloy được định nghĩa là polyme blend không trộn lẫn nhưng có tương tác trên bề mặt phân chia pha hay có sự thay đổi cấu trúc hình thái học.

Vật liệu EA được chế tạo từ BCS phế thải và PP mà BCS là CS đã lưu hoá nên không nóng chảy và phản ứng hoá học chỉ xảy ra trên bề mat hạt BCS. Vì CS phế thải không nóng chảy nên không thể sử dụng như CS nguyên liệu ban đầu, chính vì vậy tái sử dụng CS phế thải là vấn đề mang tính thời sự đòi hỏi sự hợp tác và phối hợp nghiên cứu giữa các ngành khoa học và nhiều quốc gia [25,42, 52,75]].2 Những biện pháp tái sử dụng cao su cũ và cao su phế thải: Việc đưa một vật liệu phế thải trở lại chu trình kinh tế của nó được gọi là tái sử dụng vật liệu. Việc tái sử dụng này bao gồm việc sử dụng lại các tính chất của chất thải nhưng không phải bao gồm cả việc đốt. Để tái sử dụng được cao su cũ cần tiến hành qua các bước sau: nghiền nhỏ, tách thành phần và phân loại theo kích thước hạt Quá trình nghiền bao gồm: cắt miếng, tạo hạt , tách thành phần và cuối cùng là nghiền thành bột [52,54].

Lốp ôtô được cấu thành từ rất nhiều thành phần và chi tiết khác nhau như trong hình 1: CS, lưới kim loại, vải bố, các chất độn và phụ gia chịu mài mòn, chất chống lão hoá, chất hoá déo. BCS được chế tạo chủ yếu từ phần bề mặt của lốp ôtô tiếp ráp xuống mặt đường. Sau khi bóc lớp vải bố, lưới kim loại và tanh thì được chế tạo thành bột 90 bằng nhiều cách khác nhau và được chia thành ba cách chính là nghiền nóng , nghiền lạnh và nghiền ướt. Tanh Lưới kim loại Hình 1.1 Hình ảnh mặt cắt ngang của lốp ôtô 1! Quá trình nghiền nóng: Lốp được cắt nhỏ ở nhiệt độ thường bằng dao hoặc bằng máy cắt, máy nghiền cắt hạt, máy đùn nghiền và máy nghiền, trong quá trình đó các thành phần ngoài cao su như vải, kim loại và tạp chất được tách ra bằng nam châm và rây hút gió.

Phần hạt cao su còn lại được nghiền tiếp bằng máy đùn nghiền, hay máy nghiền tấm, sau đó được rây tách theo các kích thước hạt khác nhau. Quá trình nghiền này kèm theo quá trình sinh nhiệt dẫn đến phản ứng oxy hoá nhiệt và có thể gây cháy ở nhiệt độ cao. Vì vậy ở máy cán chính phải được làm lạnh 51 bằng nước. Quá trình sinh nhiệt này làm bay hơi nước nên tiêu tốn một lượng nước tương đối lớn.

2! Quá trình nghiền lạnh: Cao su cũ được làm lạnh sâu bằng nitơ lỏng sau đó được đập nhỏ bằng cách đập vỡ trên thiết bị nghiền đập. Năng lượng cần thiết để đập vụn CS tốn ít hơn so với năng lượng nghiền nóng nhưng lại cần thêm chi phí để mua nito lỏng. Gần đây người ta sử dụng phối hợp cả hai phương pháp trên. Đầu tiên nghiền nóng để tạo hạt sau đó nghiền lạnh tạo bột.

3/ Quá trình nghiền ướt: Nghiền trên máy nghiền tấm và nhiệt lượng phát sinh được làm nguội bằng nước. Phương pháp này thu được BCS có kích thước rất nhỏ nhưng để làm khô BCS thì tốn rất nhiều năng lượng nên không hiệu quả. BCS tái chế từ lốp nguyên vẹn có thể sinh nhiệt cao đến 115°C. Ở nhiệt độ này khi có oxy không khí BCS sẽ tự oxy hoá dan dan.

Hiện tượng tương tự cũng xảy ra với CSTN khi có xúc tác sắt. Để hạn chế vấn đề này cần phải làm nguội BCS trước khi đóng gói và bảo quản. BCS có thể ép thành tấm có hoặc không có chất lưu hoá, hoặc ép chung với nhựa nhiệt dẻo, nhựa nhiệt rắn, CSTN, CS nhiệt dẻo. những vật liệu này đóng vai trò kết dính hoặc là pha vật liệu liên tục.

Ngoài ra trên liên kết C-H của BCS có khả năng kết dính hiệu quả với dầu nên BCS được sử dụng làm chất thu váng dầu trên mặt nước sau khi đã làm nổi trên mặt nước bằng phụ gia và hoá chất khác. Nhờ đặc tính này mà BCS có mặt trong thành phần của màng lọc cùng với than hoạt tính. Một lĩnh vực ứng dụng khác của BCS là được trộn với nhựa rải đường để làm tăng tính đàn hồi của vật liệu này (Mỹ và Pháp là hai nước đã sử dụng nhiều). BCS còn được trộn thêm vào CS ban đầu như là chất độn thụ động và vật 3 liệu này có tinh chất tốt hơn, nếu hàm lượng BSC không quá 40% , với ham lượng này thực chất là để CS nguyên liệu ban đầu đủ nhiều để bao bọc kín hạt BCS.

Nếu hàm lượng BCS quá lớn thì độ chịu mài mòn của vật liêu sẽ bị suy giảm. Gần đây một ứng dụng mới của BCS là chúng được sử dụng làm pha cao su phân tán trong các nhựa nhiệt dẻo để biến tính những vật liệu này[60]. Phương pháp này có thể sử dụng để tái chế nhựa nhiệt dẻo mà nhựa nhiệt dẻo là pha polyme liên tục và BCS có vai trò là chất làm tăng tính đàn hồi của vật liệu tổ hợp và vật liệu mới thu được có tính chất cơ lý tương tự như cao su nhiệt dẻo. Vật liệu này chỉ thực sự có ý nghĩa khi mà tạo được liên kết hoá học giữa BCS và nhựa nhiệt dẻo (độ mịn và độ tương hợp tốt).

Đây là tiền đề cho việc chế tạo vật liệu tổ hợp có tính chất ưu việt của cả hai polyme thành phần. Nó có thể thay thế cho vật liệu TPE có thành phần hoá học tương tự từ CS EPDM với PP hoặc PE là pha liên tục. Một số công trình nghiên cứu khoa học đã đề cập đến phương pháp tái tạo khả năng lưu hoá BCS cũ bằng các phương pháp hoá lý: như ghép monome với BCS cũ bằng phản ứng oxy hoá khử dưới tác dụng của tia y là phương pháp hidropeoxy hoá cao su; tái hoạt hoá cao su bằng siêu âm, ozon; vi sinh vật, vi sóng và xử lý bằng plasma [73,101] 1.3 Quá trình tổ hợp cao su với nhựa nhiệt déo : 1.1 Cơ sở lý thuyết - Nhiệt động học quá trình trộn lân: Tổng năng lượng U của một hệ vật liệu có thé được biểu diễn như là sự khác nhau giữa entalpi và năng lượng nén (PV): U=H-PV (1.1) Cần chú ý đối với hệ kín thì nội năng bằng hằng số và bất kể sự biến đổi entalpi nào đều được bù trừ bằng sự tăng áp suất hoặc thể tích: dH = PdV+ VdP với U = const 92 Ở trạng thái cân bằng năng lượng tự do Gibbs được định nghĩa bằng biểu thức: G=H-TS Trong đó S và T tương ứng là entropy và nhiệt độ tuyệt đối. Sự thay đổi của G được viết bằng biểu thức: dG = VdP -TdS + 3 udn, T Trong đó Hị = ( ôG/ ôn,)p„; n là số mol của chất i có hoá thế là H;.

Năng lượng tự do, entanpi, entropi và hoá thế của sự trộn lẫn tương ứng được định nghĩa bởi sự khác biệt: AF, =F - F, (1. Trong đó F và F, tương ứng là trạng thái trong dung dich va dang nguyên chất. Các điều kiện trộn lẫn của hệ hai cấu tử được mô tả bằng hai thuật ngữ: 1/ Binodal : Ap,’ =: Ap,”’ (1.4) Trong d6i= 1 hoặc 2, còn dấu phay chi pha thứ nhất và thứ hai 2/ Spinodal: D=(ØAG/ôx”;)pr =0 (1.5) 3/ Điểm tới hạn: CST = (ØAG/ôxỶ;)pr=D' =0 (1.6) Trong đó x; là phần mol của cấu tử thứ hai. Các mối quan hệ của các phương trình từ 1.6 được biểu diễn trên hình 1.2 Giản dé pha của hôn hợp hai polime Phan trên của hình chỉ sự biến đổi đẳng áp và đẳng nhiệt của AG, theo x.

Trong khi phần dưới biểu diễn giản đồ pha đẳng áp của hỗn hợp hai cấu tử có nhiệt độ hoa tan tới hạn trên, viết tat là UCST. Sự biến đổi cân bằng của AG,„ theo x, thì đi theo đường liền b’ và b’’ ứng với phương trình ( 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu chế tạo và tính chất vật liệu tổ hợp từ bột cao su phế liệu và polypropylen là một tài liệu chuyên sâu về việc tái chế cao su phế thải kết hợp với polypropylen để tạo ra vật liệu tổ hợp có tính chất cơ lý và nhiệt ưu việt. Nghiên cứu này không chỉ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ chất thải cao su mà còn mở ra hướng ứng dụng mới trong công nghiệp vật liệu. Độc giả quan tâm đến lĩnh vực vật liệu tổ hợp và tái chế sẽ tìm thấy giá trị thực tiễn từ những phân tích chi tiết về quy trình chế tạo và đánh giá tính chất của vật liệu.

Để mở rộng kiến thức về các vật liệu tổ hợp và ứng dụng của chúng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học thiết kế vật liệu fedoped cryptomelane để xử lý phẩm nhuộm màu, nghiên cứu về vật liệu xúc tác trong xử lý môi trường. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ công nghệ hóa học nghiên cứu chế tạo vật liệu nano gamma nhôm oxit yal2o3 cung cấp góc nhìn sâu hơn về vật liệu nano và quy trình chế tạo. Cuối cùng, Luận văn quy trình chế tạo vật liệu phát quang zns al cu sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp chế tạo vật liệu tiên tiến. Hãy khám phá để nắm bắt thêm nhiều thông tin hữu ích!