Chương 1. Cơ sở lý luận về tiêu chí xác định NVKH của các tổ chức khoa học và công nghệ trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Thực trạng việc xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm Chương 3. Xây dựng tiêu chí xác định NVKH của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm 16 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH NHIỆM VỤ KHOA HỌC CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Nhiệm vụ khoa học (NVKH) và phân loại NVKH Khoa học là khái niệm đang được tiếp cận trên 4 phương diện cơ bản như: Khoa học là một hệ thống tri thức, Khoa học là một hoạt động sản xuất tri thức, Khoa học là một hình thái ý thức xã hội, Khoa học là một thiết chế xã hội. Luận văn tiếp cận khoa học như là hoạt động sản xuất tri thức, hay hoạt động sáng tạo và được gọi là hoạt động nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học là một hoạt động có tính quy trình từ việc xác định nhiệm vụ nghiên cứu, đến việc triển khai nghiên cứu, đánh giá kết quả nghiên cứu và công bố hoặc ứng dụng (nếu có).
Để hoạt động nghiên cứu khoa học có hiệu quả, các quy trình của nó cần phải được đánh giá khách quan, khoa học trong đó khâu đầu tiên là xác định nhiệm vụ khoa học. Một cách thông thường, nhiệm vụ khoa học là những công việc mà người nghiên cứu (hoặc nhóm nghiên cứu) lựa chọn thực hiện. Theo Vũ Cao Đàm, NVKH có 4 loại cơ bản: - Thứ nhất: NVKH chính là chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia được ghi trong các văn kiện chính thức của các cơ quan có thẩm quyền. Chẳng hạn: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Chính sách cải cách hệ thống hành chính của Chính phủ, v.
Mỗi chiến lược và chính sách này đều cần được nghiên cứu để tìm biện pháp thực hiện. Chính đó là cơ sở để tìm kiếm cơ hội nghiên cứu. - Thứ hai: NVKH là nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên của cá nhân hoặc tổ chức nghiên cứu. Cấp trên của cơ quan nghiên cứu có thể là Tổng giám đốc của hãng, Bộ trưởng một bộ.
Họ là những người nắm được chiến lược phát triển của đơn vị do mình phụ trách. 17 z - Thứ ba: NVKH là nhiệm vụ được nhận từ hợp đồng với đối tác. Đối tác là người đặt hàng thực hiện một yêu cầu nghiên cứu theo hợp đồng. Đối tác có thể là doanh nghiệp, hoặc tổ chức xã hội, hoặc cơ quan chính phủ.
- Thứ tư: NVKH là nhiệm vụ do người nghiên cứu tự đặt cho mình xuất phát từ ý tưởng khoa học của bản thân người nghiên cứu. Tuy nhiên, để lựa chọn được một nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nó cần phải được trải qua một quá trình đánh giá nghiêm túc dựa trên những căn cứ sau: Nhiệm vụ có ý nghĩa khoa học hay không? Nhiệm vụ có mang một ý nghĩa thực tiễn nào không? Nhiệm vụ có phải cấp thiết phải nghiên cứu hay không? Nhiệm vụ có đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành không?Nhiệm vụ có phù hợp với sở thích hay không? Tuy nhiên, đánh giá lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu cần phải có những tiêu chí cụ thể, phù hợp với mỗi loại nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Do đó, trước khi đề cập đến tiêu chí xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chúng ta cần xác định loại cho từng nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Như vậy, về mặt lý thuyết, chúng ta cần phân loại nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.
Để nhận diện và phân loại nói chung và phân loại NVKH, chúng ta cần phải dựa trên những căn cứ logic nhất định. Mỗi căn cứ logic cho phép chúng ta có thể phân chia nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thành những loại nhất định. Dựa trên tính chất, mục đích nghiên cứu, chúng ta có 3 loại nhiệm vụ nghiên cứu khoa học: + Nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản: Là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật. Kết quả nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn tới hình thành một hệ thống lý thuyết mới.
18 z + Nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng: Là những nghiên cứu nhằm vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật hoặc tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp. + Nhiệm vụ nghiên cứu triển khai: Là những nghiên cứu nhằm vận dụng các lý thuyết để đưa ra các vật mẫu (prototype) và công nghệ sản suất vật mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật. Tuy nhiên, mỗi loại nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trên đều có thể được phân loại nhỏ hơn như sau: Nghiên cứu cơ bản thuần tuý Nghiên cứu nền tảng Nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu cơ bản định hướng Nghiên cứu chuyên đề Nghiên cứu ứng dụng Tạo Triển khai trong labô Prototype Triển khai Làm Pilot Triển khai bán đại trà Sản xuất Serie O (Nguồn: Vũ Cao Đàm, Tuyển tập các công trình đã công bố tập1[6,tr95] Dựa vào đối tượng khoa học, chúng ta có thể phân loại nhiệm vụ nghiên cứu khoa học theo lĩnh vực như nhiệm vụ nghiên cứu khoa học tự nhiên, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn … Dựa trên cấp quản lý, chúng ta có thể phân loại nhiệm vụ nghiên cứu khoa học theo từng cấp quản lý hành chính. Ở Việt Nam, chúng ta thấy có những nhiệm vụ nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Đại học Quốc gia, cấp cơ sở.
Tương ứng với mỗi loại nhiệm vụ nghiên cứu này là số kinh phí được cấp để triển khai nhiệm vụ nghiên cứu. 19 z Dựa trên thời gian nghiên cứu, chúng ta có thể phân chia nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thành nhiệm vụ nghiên cứu dài hạn, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trung hạn và nhiệm vụ nghiên cứu ngắn hạn. Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học dài hạn được đặt mục đích theo sứ mệnh, theo những chương trình hành động của tổ chức. Những nhiệm vụ, những chương trình này thường được chia nhỏ ra từng thời gian và những nhiệm vụ đó là những nhiệm vụ ngắn hạn hoặc trung hạn.
Mỗi loại nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đều cần có hệ thống tiêu chí đánh giá lựa chọn cụ thể. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tập trung vào xây dựng tiêu chí đánh giá lựa chọn nhiệm vụ khoa học xã hội và nhân văn. Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cũng có thể là nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cơ bản, cũng có thể là nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ứng dụng. Tuy nhiên, không phổ biến nhưng nhiệm vụ nghiên cứu khoa học theo phân cấp quản lý được đề cập trong luận văn này bởi đây là những nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phản ánh rõ nhất tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ, trong đó có Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn như trường hợp nghiên cứu của luận văn.
Tổ chức khoa học và công nghệ Tổ chức khoa học và công nghệ là một tập hợp các hoạt động được thành lập dưới các tổ chức nhằm liên kết các yếu tố của nguồn lực khoa học bao gồm phân công nhân lực, phân bổ tài chính, đảm bảo vật tư, thiết kế các kênh thông tin v. Tổ chức khoa học là một thực thể không gian (tổ chức) trong đó nhân lực được sắp xếp theo một cấu trúc xác định, được phân chia chức năng và được liên kết theo một trật tự xác định do trình tự của hoạt động khoa học chi phối. Trên thế giới, các tổ chức hoạt động KH&CN được tổ chức theo nhiều mô hình khác nhau và được Vũ Cao Đàm tóm tắt thành bốn loại cơ bản như sau: 20 z Mô hình I: Là mô hình cổ điển nhất, trong đó, các tổ chức R&D thực hiện trọn vẹn các giai đoạn của quá trình nghiên cứu và triển khai, còn các doanh nghiệp chỉ làm nhiệm vụ sản suất và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất. Giữa tổ chức R&D và doanh nghiệp tồn tại các công ty tư vấn đóng vai trò cầu nối từ R&D tới sản xuất.
Mô hình II: Là một nỗ lực của doanh nghiệp hướng tới làm chủ công nghệ mới bằng cách tự mình làm triển khai, từ khâu chế tạo vật mẫu sản phẩm mới (prototype), làm pilot để xây dựng công nghệ và sản luất loạt “series 0” đưa vào sản xuất công nghiệp và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất. Mô hình III: Tổ chức R&D tạo ra các doanh nghiệp KH&CN (xí nghiệp spin-off), chuyển toàn bộ khâu “triển khai” vào doanh nghiệp này, đồng thời để doanh nghiệp này kiêm luôn cả chức năng của một công ty tư vấn. Mô hình IV: Doanh nghiệp KHCN kéo dài chức năng về phía trước, bắt đầu từ nghiên cứu ứng dụng qua triển khai tới tư vấn [7, tr292] Bảng 1. Các mô hình tổ chức trong hoạt động KH&CN Các mô hình Nghiên Nghiên cứu Triển Chuyển Phát triên tổ chức cứu ứng dụng khai giao tri thức công nghệ cơ bản Mô hình I Tổ chức R&D Công ty tư Doanh vấn nghiệp Mô hình II Tổ chức R&D Doanh nghiệp Mô hình III Tổ chức R&D Doanh nghiệp KH&CN Doanh nghiệp Mô hình IV Tổ chức Doanh nghiệp KH&CN Doanh R&D nghiệp (Nguồn: Vũ Cao Đàm, Tuyển tập các công trình đã công bố [7,tr292]) Nghiên cứu về NVKH của các tổ chức KH&CN cụ thể là nghiên cứu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, để làm rõ các hoạt động và hiểu được tổ chức KH&CN, trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu của luận văn, hai khái niệm cần được làm rõ bao gồm: tổ chức nghiên cứu và triển khai và 21 z doanh nghiệp KH&CN.
Nhưng trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ quan tâm tới tổ chức nghiên cứu và triển khai với lý do muốn làm rõ khái niệm tổ chức R&D bởi Trường Đại học nói chung chính là một tổ chức khoa học và công nghệ. - Tổ chức nghiên cứu và triển khai được tổ chức dưới các hình thức: Viện nghiên cứu và triển khai, trung tâm nghiên cứu và triển khai, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và các cơ sở nghiên cứu và triển khai khác.