PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Tính cấp thiết Khoa học và công nghệ (KH&CN) nƣớc ta đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt trong hơn 20 năm đổi mới, Đảng và Nhà nƣớc ta đã có những quyết sách quan trọng để KH&CN thực sự đóng vai trò động lực nhằm đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Sau khi gia nhập WTO, nƣớc ta đang đứng trƣớc những thời cơ rất lớn về hợp tác và phát triển nhƣng cũng phải đối mặt với những thách thức gay gắt, trong đó không thể không tính đến thách thức về chất lƣợng nguồn nhân lực KH&CN và hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN đối với nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập.
Có thể nhận định rằng hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN cũng nhƣ nguồn nhân lực KH&CN chƣa thực sự đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới, hệ thống các văn bản pháp quy về KH&CN còn nhiều bất cập, chƣa có đủ các chính sách hữu hiệu để huy động mọi nguồn lực trong xã hội đầu từ cho KH&CN, thiếu cơ chế chính sách nhằm đẩy mạnh việc gắn kết nghiên cứu với sản xuất, kinh doanh. Để có thể kịp thời nắm bắt thông tin về tình hình hoạt động trong các tổ chức KH&CN của trung ƣơng cũng nhƣ địa phƣơng để cung cấp kịp thời thông tin phục vụ yêu cầu của cho công tác lãnh đạo, quản lý, hoạch định chính sách đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở dữ liệu về tình hình hoạt động của các tổ chức KH&CN trong đó tập trung vào các yếu tố: nhân lực, vật lực, tài lực, việc triển khai các kết quả nghiên cứu của tổ chức KH&CN, những đóp góp của hoạt động đó đối với việc phát triển KTXH tại các Bộ, ngành, địa phƣơng, Mặt khác với việc hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) sẽ góp phần tăng cƣờng năng lực và đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức; tăng cƣờng sự hợp tác, gắn bó trong công tác tổ chức hệ thống tổ chức KH&CN qua đó đánh giá lại một cách toàn diện hoạt động của các tổ 5 z chức KH&CN trên phạm vi cả nƣớc từ trung ƣơng đến địa phƣơng, phân loại đƣợc các tổ chức hoạt động có hiệu quả hoặc yếu kém; nhận dạng đƣợc chất lƣợng và số lƣợng nguồn nhân lực KH&CN, từ đó đề ra các những chủ trƣơng, quyết sách mạnh mẽ hơn để tạo ra bƣớc chuyển biến mới về chất trong hoạt động KH&CN nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế về KH&CN. Tiến hành điều tra nghiên cứu tì giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng CSDL đóng góp thêm những phƣơng án mới, giải pháp mới, cùng những luận cứ thuyết phục để các Tổ chức KH&CN trong toàn quốc cũng nhƣ cơ quan quản lý tham khảo áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng CSDL các tổ chức KH&CN nói riêng và quản lý KH&CN nói chung 1. Ý nghĩa khoa học - Góp phần nâng cao nhận thức về ứng dụng và phát triển CNTT trong quản lý các tổ chức KH&CN.
- Đóng góp thêm giải pháp xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu góp phần nâng cao năng lực quản lý các tổ chức KH&CN. - Gợi mở hƣớng nghiên cứu về xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu các tổ chức KH&CN. Ý nghĩa thực tiễn - Góp phần thúc đẩy công tác ứng dụng CNTT trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý các tổ chức KH&CN. - Cung cấp thông tin, số liệu, giải pháp cho các cơ quan quản lý KH&CN nói riêng và cho hoạt động quản lý, xây dựng cơ chế chính sách nói chung.
- Sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu về xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu các tổ chức KH&CN. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Trong những năm gần đây, CNTT có những ảnh hƣởng sâu sắc tới đời sống, xã hội, khoa học, kỹ thuật đặc biệt tại các nƣớc phát triển. Với tốc độ phát triển “bùng nổ” Internet toàn cầu và sự tiến bộ vƣợt bậc của công nghiệp CNTT đã tác động mạnh mẽ tới giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tạo ra rất nhiều cơ hội phát triển cũng nhƣ nhiều thách thức mới.
Hầu hết các tổ chức KH&CN tại các nƣớc phát triển đều xây dựng hệ thống mạng máy tính dùng riêng và ứng dụng nhiều hệ thống phần mềm trong quản lý … Có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều hội thảo đƣợc tổ chức với chủ đề nâng cao năng lực ứng dụng và phát triển CNTT trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, các tài liệu toàn văn đƣợc công bố trên mạng hoặc công bố tại Việt Nam không nhiều. Sau đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan: - Đánh giá CNTT trong công tác chăm sóc sức khỏe – Rào cản và thách thức (Evaluating information technology in health care: barriers and challenges) - Heather Heathfield, Giảng viên cao cấp, Khoa Tin học Y tế, Viện Y tế Công cộng, Đại học Cambridge, Anh Quốc. - CNTT và Truyền thông trong đào tạo y học (Communication and information technology in medical education) - J.
Ward và cộng sự. - Điều tra ứng dụng CNTT y tế tại Trung Quốc (A survey on application of Health information technologies in Chinese) - Xiang Dongping và cộng sự, Khoa Kỹ thuật, Đại học Tsinghua, Bắc Kinh, Trung Quốc. - CNTT trong đào tạo y học - Hiện tại và tương lai (Information technology in medical education: current and future applications) - G. Mooney, Bộ môn Đào tạo Y học, Khoa Y học, Đại học Liverpool, Anh Quốc.
7 z - Ứng dụng CNTT trong giảng dạy dịch tễ học và y tế cộng đồng (The application of information technology in the teaching of epidemiology and public health) của RD Smith. - CNTT nâng cao đào tạo từ xa và đào tạo truyền thống (Information technology enhanced learning in distance and conventional education) - Latchman, H. và cộng sự. Tình hình nghiên cứu trong nước Hiện nay đã có một số nghiên cứu về xây dựng cơ sở dữ liệu đã và đang đƣợc triển khai và sử dung trong công tác quản lý nhà nƣớc thuộc nhiều ngành và lĩnh vực nhƣ: + Đề tài "Xây dựng cơ sở dữ liệu và chương trình quản lý, khai thác dữ liệu địa chất công trình khu vực thành phố Bến Tre" do Trung tâm nghiên cứu công nghệ và thiết bị công nghệ, Trƣờng Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện.
+ Đề tài: "Nghiên cứu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu pháp luật phục vụ quản lý nhà nước ngành xây dựng” do Vụ Pháp chế, Bộ Xây dựng thực hiện. + Đề tài: "Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu địa lý lớp 10,11 THPT phục vụ việc soạn giảng cho sinh viên khoa địa lý trong quá trình tập giảng và thực tập sư phạm” do Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội thực hiện. + Đề tài: “Xây dựng cơ sở dữ liệu về bộ máy hành chính Nhà nước của thành phố Hồ Chí Minh nhằm phục vụ việc hoàn thiện tổ chức quản lý Nhà nước trên địa bàn”. Bên cạnh đó nhiều chƣơng trình dự án đang đƣợc triển khai theo Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27 tháng 8 năm 2010 của Thủ tƣớng Chính phủ nhƣ: Trung tâm thông tin dữ liệu điện tử Chính phủ, Trung tâm kết nối, liên thông các hệ thống thông tin ở Trung ƣơng và địa phƣơng, Hệ thống thông tin quản lý văn bản tích hợp trong toàn quốc cho các cơ quan Chính phủ; Mạng thông tin điện tử phục vụ trao đổi thông tin giữa Văn phòng Chính 8 z phủ, Văn phòng Trung ƣơng Đảng, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nƣớc; Hỗ trợ nhân rộng mô hình ứng dụng công nghệ thông tin điển hình cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng, cấp quận, huyện; Hệ thống thông tin quản lý các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải; Xây dựng Trung tâm nguồn lực quốc gia về Phần mềm nguồn mở; Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính trên Internet; Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức; Cơ sở dữ liệu quốc gia kinh tế công nghiệp và thƣơng mại; Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên và môi trƣờng; Cơ sở dữ liệu quốc gia về Biên giới lãnh thổ; Cơ sở dữ liệu quốc gia về các dự án đầu tƣ; Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp; Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cƣ; Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính Có thể nói trên các lĩnh vực khác nhau tại các Bộ, ngành, địa phƣơng đã có những nghiên cứu để xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý trong từng lĩnh vực.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chƣa có nghiên cứu cụ thể nào để xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ trực tiếp cho công tác quản lý và khai thác thông tin các tổ chức KH&CN trong nƣớc, do đó cần có nghiên cứu về xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vục cho hoạt động công tác quản lý ở tổ chức KH&CN mang tính hệ thống và thống nhất trên phạm vi cả nƣớc là một yêu cầu cấp thiết. CNTT ngày càng phát triển và ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam. Thông qua một số dự án đầu tƣ của chính phủ, một số trƣờng Y - Dƣợc đã triển khai xây dựng hệ thống mạng máy tính nội bộ, kết nối với mạng Internet, ứng dụng các hệ thống phần mềm và đầu tƣ thiết bị CNTT phục vụ giảng dạy, học tập. Nhằm ứng dụng CNTT nâng cao hiệu quả giáo dục – đào tạo, có một số đề tài nghiên cứu ứng dụng CNTT để “cải tiến”, “đổi mới” phƣơng pháp giảng dạy, hoặc “nâng cao hiệu quả công tác quản lý”.
Những đề tài này coi CNTT nhƣ đòn bẩy, công cụ đắc lực nhằm cải tiến, nâng cao hoạt động 9 z giảng dạy, nghiên cứu và điều trị tại nhà trƣờng. Tuy nhiên, có rất ít đề tài lấy “năng lực CNTT” làm đối tƣợng nghiên cứu để từ đó tìm ra các giải pháp nâng cao năng lực CNTT, góp phần đẩy mạnh đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT. Chƣa thấy có công bố nào về công trình nghiên cứu nâng cao năng lực CNTT trong Giáo dục – Đào tạo Y học. Sau đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan: - Đề tài nghiên cứu “Ứng dụng CNTT trong quản lý y tế”; Chủ nhiệm đề tài: Trần Huy Dƣơng; Cấp quản lý: cấp bộ ; Đơn vị quản lý: Viện KH&CN Việt Nam; Năm thực hiện: 2007 - 2008.