phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: 13 z Chƣơng 1: Cơ sở lý luận cơ bản về quản lý thông tin đối với hoạt động tiêu chuẩn hóa; Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thông tin đối với hoạt động tiêu chuẩn hóa của Việt Nam; Chƣơng 3: Giải pháp tạo lập thông tin điện tử đối với hoạt động tiêu chuẩn hóa ở Việt Nam từ nay đến năm 2020. 14 z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TIÊU CHUẨN HÓA 1. Thông tin & thông tin tiêu chuẩn hóa a.
Khái niệm thông tin Khái niệm thông tin rất đa dạng và phức tạp, bản chất vốn có của thông tin là tính phong phú đa dạng. Căn cứ vào đặc điểm nội dung của thông tin ngƣời ta có thể chia thông tin thành thông tin chính trị xã hội, thông tinh kinh tế, thông tin khoa học…. Tùy theo từng mục đích nghiên cứu ngƣời ta có thể chi tiết hơn nữa, ví dụ trong thông tin khoa học và công nghệ ngƣời ta có thể chia nhỏ thông tin theo lĩnh vực nhƣ về vũ trụ, vi sinh vật, vật lý, hóa học, tiêu chuẩn, đo lƣờng, chất lƣợng. Trong hoạt động KH&CN, bao gồm hoạt động tiêu chuẩn hóa, thông tin khoa học và công nghệ được hiểu là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức được tạo ra trong các hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo” [4, khoản 3 - điều 3].
Tác giả Luận văn hoàn toàn đồng ý với nội hàm nhƣ trên của khái niệm thông tin khoa học và công nghệ, vừa dễ hiểu, vừa bao quát lại đƣợc dùng chính thức trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành ở nƣớc ta. Thông tin KH&CN ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển xã hội. Trong bối cảnh thế giới đang có sự phát triển mạnh mẽ về khoa học công nghệ, khối lƣợng thông tin cũng tăng theo với tốc độ chóng mặt. Nguồn tin khoa học và công nghệ bao gồm sách, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tài liệu về sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu chuẩn, đo lƣờng, chất lƣợng, luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác đƣợc tổ chức, cá nhân thu thập.
Để khai thác, xử lý khối lƣợng thông tin trên đòi hỏi phải có sự đầu tƣ nghiên cứu một cách có định hƣớng và chuẩn hóa rõ ràng. Khái niệm thông tin tiêu chuẩn hóa 15 z Hoạt động tiêu chuẩn hoá (TCH) đƣợc các nƣớc và các tổ chức quốc tế chú trọng phát triển. Bên cạnh các công việc cụ thể nhƣ xây dựng và công bố tiêu chuẩn, xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật, công tác đào tạo, bồi dƣỡng kiến thức và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này cũng đƣợc quan tâm sâu sắc. Khái niệm TCH đƣợc xây dựng dựa trên nền tảng của khái niệm Tiêu chuẩn và đƣợc sử dụng phổ biến trên thế giới, tuy nhiên TCH mới đƣợc sử dụng ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây và đã đƣợc định nghĩa trong Tiêu chuẩn Việt Nam số 6450 nhƣ sau: “Tiêu chuẩn hoá là một hoạt động thiết lập các điều khoản để sử dụng chung và lặp đi lặp lại đối với những vấn đề thực tế hoặc tiềm ẩn, nhằm đạt được mức độ trật tự tối ưu trong một khung cảnh nhất định”.
Theo tác giả Luận văn, định nghĩa về tiêu chuẩn hóa nhƣ đƣợc nêu trong Tiêu chuẩn Việt Nam nói trên hoàn toàn phù hợp với định nghĩa chính thống của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) và thực tiễn công tác tiêu chuẩn hóa ở Việt Nam. Thông tin KH&CN, trong đó có thông tin tiêu chuẩn, đo lƣờng, chất lƣợng là một bộ phận cấu thành của hoạt động KH&CN. Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài này, thông tin TCH sẽ chỉ đề cập đến hoạt động thông tin chuyên dạng trong hệ thống của các cơ quan thông tin khoa học và công nghệ quốc gia có chức năng xây dựng nguồn lực thông tin, cung cấp thông tin về tiêu chuẩn và chất lƣợng (TC&CL) cho các cơ quan quản lý nhà nƣớc, các cơ quan nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, các đơn vị nghiên cứu khoa học, các tổ chức sản xuất, kinh doanh trong cả nƣớc, đồng thời cung cấp thông tin hoạt động, các thể lệ, chính sách và các văn bản pháp quy, kỹ thuật cho các tổ chức quốc tế, khu vực và các quốc gia trên thế giới theo những cam kết mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Hoạt động thông tin tiêu chuẩn hóa gắn rất chặt với hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội, góp phần làm cho nhiều hoạt động xã hội đi vào nền nếp, kỷ cƣơng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân.
Thông qua việc cung cấp cho các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ những thông tin mới 16 z nhất, chính xác nhất về tiêu chuẩn, đo lƣờng, chất lƣợng, hoạt động thông tin chuyên dạng này góp phần quan trọng trong việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ Việt Nam trên trƣờng quốc tế. Quản lý thông tin tiêu chuẩn hóa Hoạt động quản lý gắn liền với thông tin. Thông tin đƣợc coi nhƣ “hệ thần kinh” của hệ thống quản lý. Bất cứ hoạt động quản lý nào cũng liên quan đến thông tin.
Do vậy, thông tin là một hoạt động có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống quản lý. Việc nghiên cứu về thông tin, hệ thống bảo đảm thông tin và các biện pháp hợp lý hoá hệ thống bảo đảm thông tin là vấn đề cấp thiết trong quản lý mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Đối tƣợng của hoạt động tiêu chuẩn hoá không chỉ là những sản phẩm, hàng hoá mà còn bao hàm các lĩnh vực khác của đời sống xã hội nhƣ đảm bảo sự thống nhất trong những khái niệm, thống nhất hoá trong quản lý hành chính, trong thông tin-tƣ liệu, xuất bản-phát hành, đảm bảo trật tự an toàn xã hội và một số dịch vụ hành chính công khác. Thông tin TCH có trách nhiệm cung cấp những thông tin/tƣ liệu về tất cả các lĩnh vực đó cho các cơ quan, đơn vị liên quan, nhờ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý các mặt hoạt động xã hội.
Là bộ phận của thông tin KH&CN, thông tin TCH có mối quan hệ rất chặt chẽ với hoạch động sản xuất kinh doanh, trong đời sống xã hội. Thông tin TCH cung cấp các cho các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ những thông tin mới, chính xác về các chuẩn mực hoạt động, góp phần quan trọng trong việc nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ trên thị trƣờng. Ngoài ra, thông tin TCH còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của ngƣời tiêu dùng thông qua việc cung cấp các thông tin kịp thời về chất lƣợng hàng hoá, về các phƣơng pháp sử dụng, bảo quản, bảo dƣỡng sản phẩm cũng nhƣ những quy định luật pháp của Nhà nƣớc trong việc bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng, những thủ tục và trình tự giải quyết các tranh chấp về chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ. 17 z Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế, tham gia nhiều tổ chức, diễn đàn, thỏa thuận song phƣơng, đa phƣơng nhƣ ASEAN, APEC, ASEM, Khu vực Thƣơng mại Tự do ASEAN (AFTA), ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Hàn Quốc, Hiệp định Thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định đối tác Kinh tế toàn diện với Nhật Bản nhất là việc tham gia Tổ chức Thƣơng mại quốc tế (WTO) và rất nhiều các Hiệp định tự do thƣơng mại khác, đặc biệt tới đây là Hiệp định đối tác kinh tế chiến lƣợc xuyên Thái Bình Dƣơng (TPP) đã, đang và sẽ đòi hỏi hoạt động thông tin TCH phải có sự thay đổi và nỗ lực mạnh mẽ, phải thay đổi từ định hƣớng thu thập xây dựng tƣ liệu, phƣơng pháp và phƣơng tiện truyền tin đến quan điểm phục vụ.
Thực tế trong thời gian qua đã chứng tỏ những bƣớc chuyển biến tích cực của hoạt động thông tin TCH, song còn phải phấn đấu nhiều mới đáp ứng đƣợc nhu cầu thông tin ngày càng phong phú, đa dạng, phức tạp của sản xuất và đời sống xã hội. Trong Luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm thông tin TCH là thông tin về TBT nghĩa là thông tin về hàng rào kỹ thuật trong thƣơng mại bởi vì nội hàm của TBT theo WTO chính là 03 hoạt động liên quan đến (1) tiêu chuẩn, (2) quy chuẩn kỹ thuật và (3) quy trình đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Cụ thể là: - Tiêu chuẩn là một tài liệu (document) được thông qua bởi một tổ chức được thừa nhận đưa ra các quy tắc, hướng dẫn hoặc các đặc tính của sản phẩm hoặc quá trình, các phương pháp sản xuất để sử dụng chung và lặp đi lặp lại, nhưng không bắt buộc phải tuân thủ. Tài liệu này cũng có thể bao gồm hoặc đề cập về thuật ngữ, ký hiệu, các yêu cầu về bao gói, ghi dấu hoặc ghi nhãn áp dụng cho 1 sản phẩm, quá trình hoặc phƣơng pháp sản xuất [1, Phụ lục 1 – đoạn 2].
- Quy chuẩn kỹ thuật là văn bản (document) đưa ra các đặc tính của sản phẩm hoặc các quy trình có liên quan đến sản phẩm và phương pháp sản xuất, gồm cả các quy định quản lý hành chính thích hợp mà việc tuân thủ chúng là bắt buộc. Những văn bản này cũng có thể là bao gồm hoặc gắn liền với các thuật 18 z ngữ, ký hiệu, các yêu cầu về bao gói, ghi dấu hoặc ghi nhãn áp dụng cho 1 sản phẩm, quá trình hoặc phƣơng pháp sản xuất [1, Phụ lục 1 – đoạn 1]. - Quy trình đánh giá sự phù hợp là bất cứ quy trình/thủ tục nào được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để xác định các yêu cầu liên quan trong quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn có được đáp ứng hay không [1, Phụ lục 1 – đoạn 3]. Các quy trình/thủ tục về đánh giá sự phù hợp bao gồm: các quy trình lấy mẫu, thử nghiệm, giám định; đánh giá (của bên thứ nhất, thứ hai, thứ ba), hiệu chuẩn; đăng ký/chứng nhận; công nhận.
Chính vì vậy, các nội dung đề cập tại Chƣơng 2 của Luận văn này cần đƣợc hiểu rộng hơn so với khái niệm hẹp về hoạt động xây dựng tiêu chuẩn mà các tác giả khác vẫn đề cập trong các đề tài nghiên cứu về hoạt động tiêu chuẩn hóa.