CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC HỆ THÓNG CƠ SỞ DỮ LIỆU VẺ CÁC TÔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Khái quát về các tổ chức khoa học và công nghệ 1. Khái niệm và đặc diém về tổ chức KH&CN 1.1 Khái niệm về tổ chức KH&CN: Hiện nay có nhiều khái niệm về tổ chức như : Tổ chức được xem như tập hợp của nhiều người, nhiều nhóm người nhằm thực hiện một mục tiêu chung mà một người hay một nhóm người không thực hiện được.
Tổ chức là một thực thé xã hội do các cá nhân hoặc các nhóm kết hợp đề thực hiện mục tiêu chung, có 3 đặc trưng cơ bản ngang nhau: + Tổ chức được tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu chung của cộng đồng. + Có cau trúc phân công lao động + Có một ban quản lý chịu trách nhiệm đảm bảo sự điều phối và thực hiện mục tiêu của tổ chức. Như vậy: Tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) là tổ chức được thành lập theo quy định của Luật KH&CN và pháp luật có liên quan để tiến hành hoạt động KH&CN.2 Đặc điểm của tổ chức KH&CN a.Muc tiêu của hoạt động KH&CN Mục tiêu của hoạt động KH&CN là xây dựng nền KH&CN tiên tiến, hiện đại dé phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người mới, gdp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tẾ xã 15 hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo quốc phòng an ninh! b.Nhiệm vụ cua hoạt động KH&CN: Nhiệm vụ chủ yếu của hoạt dộng KH&CN là: Nghiên cứu những van dé ly luận và vận dung vào thực tế khoa học về xã hội và nhân văn dé xây dựng luận cứu khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách, luật pháp và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần làm giàu kho tàng văn hóa khoa học của thế giới; Nâng cao năng lực KH&CN để làm chủ và sang tạo công nghệ; Tiếp thu các thành tựu KH&CN và thực hiện chuyên giao công nghệ tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao. Nguyên tắc hoạt động KH&CN Hoạt động KH&CN phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh.
Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về KH&CN của đất nước, tiếp thu có chọn lọc các thành tựu KH&CN của thế giới phù hợp với thực tiễn của đất nước. Kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn, gắn khoa học với công nghệ và công nghệ VỚI giáo dục và đào tạo. Phát huy khả năng lao động và sáng tạo của mọi tô chức cá nhân Trung thực, khách quan đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân chủ, tự chủ.Phân loại tổ chức KH&CN Có nhiều kiểu phân loại tổ chức KH&CN khác nhau tùy theo tiêu chí, mục tiêu đã định. Một số cách phân loại chủ yếu như sau: + Phân loại theo lĩnh vực KH&CN: Theo lĩnh vực KH&CN người ta chia thành 5 lĩnh vực: - Khoa học tự nhiên - Khoa học kỹ thuật (công nghệ) ! Luật Khoa học và Công nghệ 16 - Khoa học xã hội và nhân văn - Khoa học nông nghiệp - Khoa học y - dược + Phân loại theo hoạt động KH&CN Theo các hoạt động KH&CN người ta chia thành 3 loại tổ chức KH&CN: - Nghiên cứu triển khai - Chuyến giao công nghệ - Dịch vụ khoa học và công nghệ + Phân loại theo chủ sở hữu: Theo chủ sở hữu, người ta chia tổ chức KH&CN thành các loại: - Tổ chức KH&CN thuộc khu vực nhà nước - Tổ chức KH&CN thuộc khu vực tư nhân - Tổ chức KH&CN thuộc khu vực tập thể - Tổ chức KH&CN thuộc khu vực đa quốc gia + Phân loại theo Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam: Điều 9, Luật KH&CN qui định, các tô chức khoa học và công nghệ bao gồm: - Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển).
- Trường đại hoc, học viện, trường cao đăng (sau đây gọi chung là trường đại học). - Tổ chức dich vụ khoa học va công nghệ. Vị trí, vai trò các tổ chức khoa học và công nghệ Kinh nghiệm thế giới cho thấy việc đánh giá đúng vị trí và vai trò và tam quan trọng của KH&CN sẽ góp phan quan trọng vào trong quá trình phát triển KT-XH của mỗi quốc gia, điều này đã được Tổng bí thư, Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Hồ Câm Đào khăng định trong bài phát biểu trước Quốc hội tai kỳ họp thứ 10, khóa XI như sau: “Qua thuc tiễn chúng ta đã nhận thức rằng, muốn làm KT-XH Trung Quốc phát triển vừa 17 nhanh vừa tốt, can phải thực hiện tốt bốn nội dưng. Nội dung thứ nhất là can phải kiên trì lay quan niệm về phát triển khoa học dé chỉ đạo toàn cục phát triển KT-XH, đưa quan niệm về phát triển khoa học xuyên suốt cả quá trình phát triển KT-XH và thực hiện vào mọi khẩu phát triển KT-XH.
Chính vì nhận thức được vai trò của KH&CN, hiện nay Trung Quốc đang triển khai thực hiện chiến lược: “sứ dụng KH&CN cộng với giáo duc để chan hưng dat nước”. Ở Việt Nam Khoa học và Công nghệ đã được xác định là nền tảng, động lực đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước. Đảng và Nhà nước ta đó sớm xác định vai trò then chốt của cách mạng khoa học và kỹ thuật. Trong thời gian qua, đặc biệt là thời kỳ đối mới, nhiều văn bản quan trọng về định hướng chiến lược và cơ chế, chính sách phát triển KH&CN đã được ban hành: Nghị quyết hội nghị Trung ương 2 Khóa VIII (1996); kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khoá IX (2002); Luật KH&CN (2000); Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2010 (2003); Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN (2004), Nghị quyết hội nghị Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ tri thức trong thời kỳ đây mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và nhiều chính sách cụ thể khác về xây dựng tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý KH&CN.
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và đặc biệt sự cô gang cua đội ngũ can bộ KH&CN, hoạt động KH&CN nói chung va hoạt động KH&CN của các tổ chức NC&PT nói riêng đã có bước chuyền biến, đạt được một số tiến bộ và kết quả nhất định, đúng góp tích cực vào sự phát trién KT-XH, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Hệ thống tổ chức NC&PT Việt Nam được hình thành và phát triển trên cả 5 lĩnh vực khoa học (khoa học tự nhiên, khoa hoc kỹ thuật, khoa hoc nông nghiệp, khoa học y - dược, khoa học xã hội và nhân văn), đã tạo ra những sản phẩm khoa học góp phan quan trong phát triển kinh tế và nâng cao trình độ công nghệ của xã hội, cụ thê là: 18 Đã xây dựng các luận cứ khoa học đảm bảo cho các quyết định có tính chất chiến lược của Đảng và Nhà nước đã và đang tao ra thế ôn định va phát triển về chính trị và kinh tế của đất nước, đưa đất nước vượt qua những thử thách cực kỳ khó khăn, đồng thời những thành tựu KH&CN đạt được góp phần quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, tạo cho đất nước một vị thế trên trường quốc té. Kết quả của công tác điều tra cơ bản đã từng bước tạo được bức tranh toàn cảnh về các điểm tài nguyên và các dạng tài nguyên của đất nước là cơ sở dữ liệu khoa học giúp Nhà nước hoạch định chiến lược phát triển KT- XH, đồng thời có kế hoạch chuẩn bị các công nghệ khai thác, chế biến và sử dụng trong cơ chế thị trường. Tạo ra khả năng an toàn về lương thực quốc gia, đảm bảo đủ lương thực tiêu dùng trong nước và góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu.
Vẫn đề lương thực của đất nước được giải quyết một cách cơ bản, góp phan rất quan trọng trong 6n định xã hội, đồng thời tao thế đứng của Việt Nam trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới. Nhiều sản phẩm được tạo ra từ nguyên liệu của Việt Nam có khả năng thay thé hàng nhập khâu và có khả năng xuất khâu. Day là một lợi thé của Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường cần được tập trung đầu tư dé hoàn thiện về chất lượng đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Khối lượng tri thức được tạo ra từ hệ thống các tổ chức KH&CN góp phan rat quan trọng trong việc nâng cao mặt bang dan trí và trình độ khoa học cho toàn thể dân tộc Việt Nam.
Chúng ta nhận thấy rằng, có những tác động khác nhau của nhà nước vào tô chức KH&CN: tác động thông qua các công cụ quản lý vĩ mô; can thiệp ở nhiều mức độ tuỳ thuộc theo ý đồ ra đời tổ chức NC&PT nhà nước. Những phân biệt này sẽ là cơ sở tiếp tục tiến hành phân tích vấn đề quản lý nhà nước đối với các tổ chức KH&CN. Tuy nhiên, vi tri, vai tro của các tô chức KH&CN ở các cấp va cơ quan quản lý khác nhau là khác nhau. 19 Tổ chức KH&CN cấp quốc gia được thành lập chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định ra đường lối, chính sách, pháp luật, tạo ra các kết quả KH&CN mới có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài về KH&CN.
Tổ chức KH&CN cấp quốc gia là những don vị hành chính sự nghiệp nên tô chức cũng mang tính hành chính. Trong tô chức KH&CN cấp quốc gia có các tô chức KH&CN trực thuộc, thường được thành lập theo chuyên ngành khoa học. Nước ta hiện có 2 tổ chức KH&CN cấp quốc gia đó là Viện KH&CN Việt Nam và Viện khoa học xã hội Việt Nam. Xuất phát từ nhiệm vụ nêu trên, vai trò và chức năng của tổ chức KH&CN cấp quốc gia là: Là thành phần chủ đạo quyết định việc xây dựng và phát triển nền KH&CN của đất nước, thực hiện vai trò hạt nhân trong hợp tác nghiên cứu.