CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THUC TIEN CUA DE TÀI 1. Khái niệm Tư vấn (consultants) được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: “Tự vấn là một động từ chỉ hoạt động có chức năng góp ý cho người hay cấp có thẩm quyên ”.1757] Sách hướng dẫn sử dụng tư van trong nước do Dự án VIE/95/038 do Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam biên soạn định nghĩa tư vẫn một cách tổng quát: “te van là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động chất xám cung cấp cho khách hàng những lời khuyên đúng dan về chiến lược, sách lược, biện pháp hành động và giúp đỡ, hướng dẫn khách hàng thực hiện những lời khuyên đó, kế cả tiền hành những nghiên cứu soạn thảo du án và giám sát quá trình thực thi dự án đạt hiệu quả yêu cau (dự án hiểu theo nghĩa rong)”. Cũng theo sách hướng dẫn này, tư van được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa truyền thống, thì “tw vấn là hoạt động cung cấp lời khuyên độc lập và vô tư do một bên thứ ba thực hiện trên cơ sở hợp đồng đưới hình thức nào đó ”. Điều này có nghĩa là tư vấn là cung cấp lời khuyên nhưng phải độc lập va VÔ tu.
“Độc lập ngụ ý rang lời khuyên đưa ra, cho dù là dành cho một tổ chức thuộc khối công cộng hay một công ty tư nhân, phải xuất phát từ một người nào đó (nhà tư vấn) không phải là cán bộ của tổ chức/công ty đó và người này được tuyển dụng thường là trên cơ sở hợp đông ngắn hạn hoặc tạm thời. Vô tư ngụ ý rằng lời khuyên đưa ra phải là quan điểm của nhà tư vấn và không bị tác động bởi các thành viên của tổ chức đang tìm kiếm lời khuyên theo bất cứ cách nào không được mong muon”.34] Định nghĩa hẹp về tư van nh là “cung cấp lời khuyên” đã được mở rộng dang kế thành tham gia vào việc thực hiện các hệ thong quan ly thông qua “hợp đồng phụ” hay là thông qua hình thức “nhập nguồn lực từ bên ngoài ”.35] Hoạt động tư vấn có thê được tiếp cận theo hai hướng khác nhau: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Cách tiếp cận thứ nhất nhìn nhận Tư vấn theo nghĩa rộng xem xét Tư vẫn là một hoạt động hay một chức năng. Nếu xem xét Tư van là một hoạt động hoặc chức năng thì nó “bao gom bat cứ hình thức hỗ trợ nào về nội dung, qua trình hay cầu trúc của một hoặc một loạt công việc ” có nghĩa là Tư vẫn chỉ cung cấp những hỗ trợ hoặc trợ giúp cho quá trình ra quyết định hoặc điều hành, triển khai công việc mà không trực tiếp ra quyết định.
Cách tiếp cận thứ hai, nhìn nhận Tư vấn theo nghĩa hep “coi Tw van la một dich vu chuyên môn ”. Nếu hiểu theo cách tiếp cận này, thì tư vẫn được coi là một loại hình dich vụ mà sản phẩm của nó là sản phẩm đặc biệt - chất xám. Sản phẩm đó có thé được hình thành qua quá trình cập nhật thông tin, kiến thức, xử lý thông tin, lựa chọn những giải pháp thích hợp cho từng trường hợp cụ thể nhằm trợ giúp cho khách hàng ra quyết định hoặc triển khai những hoạt động cụ thé. Việc cung cấp những giải pháp, kiến thức không phụ thuộc bởi bat cứ sự tac động bên ngoai nào ma nó được cung cấp một cách độc lập, khách quan.
Theo cách hiểu này, Nghị định 87/2002/NĐ-CP ngày 5/11/2002 định nghĩa: “Hoạt động tr vấn là hoạt động thu thập, xử lý thông tin, vận dung tri thức chuyên môn, phát hiện van dé, dé xuất giải pháp, phương án, lập dự án và giám sát, đánh giá do các tổ chức chuyên môn và cá nhân Việt Nam thực hiện độc lập, khách quan theo yêu cầu của người sử dụng tư van”. Ở Việt Nam, tư vấn được hiểu như trong Quyết định 22/2002/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ, khái niệm “tư vấn” được hiểu như sau: “Là hoạt động trợ giúp về tri thức, kinh nghiệm, cung cấp các thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá và kiến nghị trong việc dé xuất, xây dựng hoặc thẩm định và phê duyệt dự an”. Từ những định nghĩa nêu trên, xuất phát từ tình hình thực tiễn triển khai hoạt động tư van tại Liên hiệp hội Việt Nam, nghiên cứu này quan niệm khái niệm tư 10 vân được sử dụng rộng rãi và phô biên nhât là khái niệm được nêu trong Quyêt định 22/2002/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ. Mục đích Trong quá trình đề xuất, xây dựng, thâm định hoặc thực hiện đề án, thường bắt buộc phải có đánh giá từ giai đoạn triển khai cho đến giai đoạn kết thúc dự án.
Những đánh giá đó phải có cơ sở, luận cứ khoa học để minh chứng cho tính khả thi và thực tiễn của dự án. Hoạt động tư vẫn chính là quá trình cung cap, trợ giup co sở, luận cứ khoa hoc cho dự án đó. Hình thức thực hiện: Hoạt động tư van diễn ra dưới các hình thức sau: - Các tô chức thuộc các ngành, các cấp, các địa phương (các tổ chức hữu quan) đặt yêu cầu cho đơn vị thực hiện tư vấn (các tổ chức hữu quan đóng vai trò chủ động). - Đơn vị thực hiện tư van chủ động gặp gỡ, đề xuất hoạt động tư van đối với các tổ chức hữu quan (đơn vị tư vấn đóng vai trò chủ động).
- Ngoài ra, có thể thông qua hình thức đấu thầu đề thực hiện nhiệm vụ tư vấn theo quy định chung của pháp luật (cả đơn vị tư vấn và các tổ chức hữu quan đều đóng vai trò chủ động). Đặc điểm: Với tính chất là một dịch vụ, hoạt động tư vấn có đặc điểm: - Qúa trình thực hiện tư van diễn ra liên tục trong đó có sự trao đôi thông tin qua lại giữa nhà tư vấn và bên sử dụng tư van. Qua trình này chi có thé dem lại hiệu quả cao nếu có sự hợp tác tích cực giữa hai bên. - Sản phẩm của hoạt động tư van luôn là sản phẩm cụ thể và có tính hiệu quả cao, trong đó thông tin hay cụ thé hơn là các tri thức, biện pháp, giải pháp xử lý các vân đê được chú trọng.
11 - Kết quả của hoạt động tư vấn vừa góp phần giải quyết trực tiếp vấn đề cần tư vấn nhưng thông qua việc sử dụng những tri thức, kiến thức của nhà tư vấn, hoạt động tư vấn vừa góp phần nâng cao trình độ, năng lực của người sử dụng tư vấn. - Ngày nay, các nhà tư van vừa cung cấp dịch vụ tư van nhưng cũng có thể tham gia vào việc thực hiện, hỗ trợ thực hiện một SỐ giai đoạn hay cả chu trình tư vấn nhằm làm cho quá trình thực hiện từ giai đoạn tư vẫn đến giai đoạn thực hiện xuyên suốt, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan. Bên cạnh những đặc điểm nêu trên, hoạt động tư van có những đặc thù riêng dé phân biệt với các hoạt động khác: Hoạt động tư vấn đích thực không thể tách rời bốn loại hình có quan hệ hữu cơ: nghiên cứu, xử lý thông tin, đào tạo, giúp đỡ kỹ thuật. Chỉ có trên nên tảng nghiên cứu một cách hệ thong các vấn dé kinh tế và công nghệ, hình thành một cơ sở thông tin dữ liệu phong phú, hướng đích, các đơn vị tư vấn mới nâng cao được chất lượng và tính hiệu quả của dịch vụ tư vấn.
Đồng thời, tô chức việc đào tao nội bộ dưới mọi hình thức linh hoạt dé nâng cao trình độ, kiến thức và nghé nghiệp cũng như tổ chức những lop học chuyên dé cho các cơ quan, đơn vị, khách hàng có yêu câu, được xem như biện pháp tốt để tạo dựng hình ảnh tích cực cho don vi tư vấn. [12] Đối với bất cứ hoạt động nào thì việc nâng cao trình độ, năng lực là yếu tố quyết định nhằm nâng cao hiệu quả của bản thân hoạt động đó. Hoạt động tư vẫn lại cảng đặt ra yêu cầu khắt khe đối với nhà tư vấn. Hoạt động tư vẫn đòi hỏi nhà tư vấn phải có kiến thức vừa rộng vừa chuyên sâu.
Muốn có được điều đó, hơn ai hết nhà tư vấn phải thường xuyên tự nâng cao trình độ chuyên môn của mình thông qua quá trình đào tạo, qua sách vở, qua kinh nghiệm thực tiễn trong suốt một thời gian dài, có khi là kết quả hoạt động của cả một đời người, không thê một sớm một chiều mà có được. Những nhà tư vấn phải đồng thời là chuyên gia trong một lĩnh vực nào đó. “Trong suốt quá trình công nghệ và tác nghiệp của nhà tư vấn thì dữ liệu là các yếu tố dé phân tích, thông tin là dữ liệu có bối cảnh, kiến thức là 12 thông tin mang ý nghĩa, trí khôn là kiến thức cộng uyên thâm, còn tư vấn là chuyển giao trí khôn.[12] Cũng như các hoạt động khác, kiến thức chuyên môn là cần thiết nhưng chưa đủ. Bat cứ nhà tư van hay đơn vị tư van nào cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp.
Day chính là yếu tố dé phân biệt hoạt động tư vấn chuyên nghiệp với những loại hình tư vấn khác. Tính chất: Với vị trí độc lập (không phụ thuộc về hành chính và tài chính đối với người sử dụng tw vấn) và trên cơ sở kiến thức, kinh nghiệm phong phú của mình, nhà tư vấn đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn, xúc tác, đạo diễn và thực hiện chức năng “tham mưu, đốc chiến” cho các loại khách hàng theo từng lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn. Nhà tư van không trực tiếp chỉ đạo, điều hành công việc của khách hàng, chỉ chịu trách nhiệm về chất lượng của dịch vụ tư vẫn mà không phải chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng của công việc do khách hàng và bộ máy tổ chức của khách hàng chủ động thực hiện (ngoại trừ trường hợp tư vấn được chủ dự án giao cho quản lý, giám sát toàn bộ quá trình thực hiện dự án). Chính vì vậy, hoạt động tư vẫn mang tính khách quan, độc lập, không bị lệ thuộc vào một áp đặt chủ quan nao.
Hoạt động này xuất phát từ điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp một cách khoa học, bảo đảm được tính chính xác, tính chủ động, sáng tạo, tính hiệu quả tối đa với cách tiếp cận đúng dan và phương pháp làm việc nhà nghề của chuyên gia tư vấn.