Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TIÊU CHUẨN QUỐC GIA Cho đến nay, vấn đề tiêu chuẩn nói chung, cũng như tiêu chuẩn quốc gia nói riêng, rất được các quốc gia, các tổ chức quốc tế và công ty quan tâm. Chính vì thế, vấn đề này đã được đề cập đến trong nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, một số quốc gia cũng đã có những nghiên cứu để phát triển và cải tiến hệ thống tiêu chuẩn quốc gia của mình. Nội dung các công trình sẽ được sắp xếp và phân loại thành những mảng vấn đề có liên quan như sau: 1.
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI Liên quan đến tiêu chuẩn và phát triển hệ thống tiêu chuẩn quốc gia, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trên thế giới được công bố, có thể chia các công trình đó theo các hướng nghiên cứu như sau: Một là, các công trình nghiên cứu về vai trò của tiêu chuẩn hóa và phát triển hệ thống tiêu chuẩn quốc gia. Trong công trình “Standard and Standardization Handbook (Sổ tay Tiêu chuẩn và Tiêu chuẩn hóa)”[86], tác giả Peter Hatto đã nêu rất cụ thể vai trò quyết định của tiêu chuẩn trong việc: (i) Đảm bảo an toàn, chất lượng và độ tin cậy của sản phẩm, quá trình và dịch vụ; (ii) Sản xuất hiệu quả; (iii) Giảm chi phí thông qua cạnh tranh; (iv) Hỗ trợ các điều luật, quy định. Bên cạnh đó, bằng cách cung cấp cầu nối giữa nghiên cứu với các ngành công nghiệp, tiêu chuẩn có giá trị như một công cụ thúc đẩy đổi mới và thương mại hóa thông qua: (i) Phổ biến các ý tưởng mới và thực hành tốt; (ii) Xác nhận các công cụ và phương pháp đo lường mới; (iii) Thực hiện các quá trình và quy trình mới. 8 Bên cạnh đó, vai trò của tiêu chuẩn cũng được Oliver Hogan và các cộng sự thể hiện qua “The Economic Contribution of Standards to the UK Economy (Đóng góp của Tiêu chuẩn vào nền kinh tế nước Anh)” [85] dưới rất nhiều khía cạnh như: Sự phát triển của tiêu chuẩn là do nhu cầu của các ngành công nghiệp; Tiêu chuẩn giúp giải quyết các vấn đề nền tảng, vấn đề về tổ chức và kỹ thuật, mà nếu không được giải quyết, sẽ dẫn đến hoạt động thị trường không hiệu quả và kết quả kinh tế kém; Tiêu chuẩn giúp các ngành công nghiệp vượt qua các vấn đề mà nếu không có tiêu chuẩn sẽ dẫn đến kết quả kém hơn cho các doanh nghiệp, cụ thể tiêu chuẩn: (i) Tạo thuận lợi cho khả năng tương tác giữa các sản phẩm và quy trình; (ii) Giảm sự bất đồng của hàng hóa và dịch vụ một cách hiệu quả; (iii) Đảm bảo chất lượng và thúc đẩy năng suất; (iv) Trao đổi thông tin kỹ thuật một cách hiệu quả.
Vai trò của tiêu chuẩn hóa trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, cũng đã được Hulusi Senturk khẳng định trong “Effects of standardization on global competition (Ảnh hưởng của tiêu chuẩn hóa lên cạnh tranh toàn cầu)” [79], cụ thể: (i) Tăng cường giao thương thương mại; (ii) Cải tiến công nghệ và tăng mức độ sử dụng rộng rãi của công nghệ; (iii) Nâng cao hiệu quả sản xuất; (iv) Tăng khả năng cạnh tranh; (v) Quản lý quá trình hiệu quả; (vi) Đem đến lợi ích cho cộng đồng: sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển ổn định, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng v.v… Tác giả Biatna Dulbert Tampubolon trong “Why still develop national standards for export? An Indonesia case study (Tại sao vẫn phải xây dựng tiêu chuẩn quốc gia xuất khẩu? Nghiên cứu tại Indonesia)” [68] cũng đã nhận định: Tự do hoá thương mại đã đi vào một chính sách chung để giảm rào cản thương mại. Tuy nhiên, mỗi quốc gia tìm cách bảo vệ quyền lợi của các nhà 9 sản xuất trong nước trước áp lực cạnh tranh hàng nhập khẩu. Nhiều quốc gia sử dụng các tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp như các biện pháp phi thuế quan. Xu hướng của tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, chấp nhận các tiêu chuẩn quốc tế bởi vì nó làm giảm thời gian, giảm chi phí và giúp mở ra những thị trường mới.
Tại sao các nước đang phát triển vẫn đang xây dựng các tiêu chuẩn quốc gia về xuất khẩu? Theo các kết quả thu được từ phân tích dữ liệu thực nghiệm sử dụng bảng phù hợp, giá trị của hệ số tương quan tương đối nhỏ, nhưng vẫn cao hơn đến hai năm. Nhìn chung, điều này đã có một tác động đáng kể đến thương mại của Indonesia. Nhìn từ mô hình hồi quy tuyến tính, có một số tác động tích cực và tiêu cực trong một số sản phẩm ngành. Tốc độ tăng trưởng về phát triển tiêu chuẩn ở Indonesia đóng góp 14,42% tác động đến giá trị xuất khẩu từ năm 2000 đến năm 2014 và sự tăng trưởng của việc áp dụng tiêu chuẩn chỉ mang lại 10,02% tác động tích cực trong cùng kỳ.
Nhìn chung, sự kết hợp của hai các yếu tố có tác động tích cực ở mức 12,54%. Trong công trình “National Standards Infrastructure Underpinning the Economic Growth of Korea (Hạ tầng Tiêu chuẩn Quốc gia là cơ sở giúp Tăng trưởng Kinh tế của Hàn Quốc)”[90], tác giả Seo Sangwook cũng chứng minh tác động tích cực của tiêu chuẩn hóa lên nền kinh tế, cụ thể, tiêu chuẩn tác động đến 80 % giao dịch hàng hóa quốc tế, 76 % tổng thương mại ở EU. Qua các nghiên cứu thực nghiệm khác nhau được nêu trong công trình “The Impact of Standardization and Standards on Innovation (Tác động của Tiêu chuẩn hóa và Tiêu chuẩn lên Sự đổi mới)” [82] của tác giả Knut Blind cũng đã chứng minh vai trò của tiêu chuẩn trong việc truyền tải kiến thức kỹ thuật và đóng góp của chúng vào tăng trưởng kinh tế, chi tiết như bảng sau.1 - Các nghiên cứu quốc gia về tác động của tiêu chuẩn lên tăng trưởng kinh tế Đóng góp của Quốc gia Xuất bản phẩm Khung Tỷ lệ tăng tiêu chuẩn vào thời gian trưởng GDP tăng trưởng GDP (%) (%) Đức DIN (2000) 1960-1990 3,3 0,9 Đức DIN (2011) 1992-2006 1,1 0,8 Pháp AFNOR (2009) 1950-2007 3,4 0,8 Vương quốc DTI (2005) 1948-2002 2,5 0,3 Anh Hội đồng Tiêu Canada chuẩn Canada 1981-2004 2,7 0,2 (2007) Tiêu chuẩn Australia Australia 1962-2003 3,6 0,8 (2006) Hai là, các công trình nghiên cứu về sự cần thiết của hài hòa tiêu chuẩn trong hội nhập kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang trở nên không biên giới, các giao dịch quốc tế về hàng hoá và dịch vụ đang mở rộng, tầm quan trọng của việc hài hòa tiêu chuẩn quốc tế (ISO, IEC) nhằm làm giảm các rào cản kỹ thuật đối với thương mại quốc tế ngày càng gia tăng.
Điều này có thể xảy ra khi các quốc gia ban hành các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật có thể được coi là không hợp lý nếu được áp dụng bắt buộc làm cho các công ty nước ngoài kinh doanh ở nước đó gặp khó khăn. Nhằm tránh những rào cản kỹ thuật không cần thiết, Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của (WTO) năm 1995 đưa ra một bộ quy tắc thực hành tốt, theo đó các quốc gia công nhận và sử dụng tiêu chuẩn quốc tế làm cơ sở cho các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Oliver Hogan và các cộng sự trong công trình “The Economic Contribution of 11 Standards to the UK Economy (Đóng góp của Tiêu chuẩn vào nền kinh tế nước Anh)” [85] cũng chỉ rõ, để tạo thuận lợi cho hoạt động của một thị trường chung hài hoà, các tiêu chuẩn được xây dựng do các cơ quan tiêu chuẩn hóa Châu Âu (CEN, CENELEC) phải được tất cả các nước thành viên chấp nhận là tiêu chuẩn quốc gia. Cộng đồng kinh tế Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng không nằm ngoài xu hướng vận động chung, trong công trình“Cộng đồng kinh tế ASEAN Blueprint Implementation Performance and Challenges: Standards and Conformance (Thách thức và hiệu quả thực hiện kế hoạch hành động của AEC: Tiêu chuẩn và Sự phù hợp)”[87] của tác giả Rully Prassetya và Ponciano S.
Intal Jr cũng đã nêu rõ, trong bối cảnh hàng rào thuế quan trong ASEAN đang dần được xóa bỏ thì các biện pháp kỹ thuật như tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp trở thành Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT) khi được áp dụng quá chặt chẽ. Các nghiên cứu chỉ ra rằng TBT có thể có tác động tiêu cực đến xuất khẩu của các doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà sản xuất các sản phẩm dễ hư hỏng và các doanh nghiệp dựa vào đầu vào nhập khẩu. Chính vì vậy, hài hòa tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và đánh giá sự phù hợp là một trong những biện pháp chủ chốt để giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của TBT lên các quốc gia thành viên ASEAN. Các quốc gia ASEAN đang hài hòa tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và đánh giá sự phù hợp trong 9 lĩnh vực: sản phẩm nông nghiệp; máy móc ô tô; công trình và vật liệu xây dựng; mỹ phẩm; thiết bị điện và điện tử; thiết bị y tế; dược phẩm; cao su; thuốc và thực phẩm chức năng.
Tăng cường sự hài hòa giữa các tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn quốc gia cũng cho phép các quốc gia sử dụng các sản phẩm và công nghệ vượt ra ngoài biên giới quốc gia, từ đó tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế. Với việc thực thi Hiệp định WTO/TBT vào tháng 1/1995, Nhật Bản đã thúc đẩy sự 12 nhất quán về nội dung kỹ thuật giữa các tiêu chuẩn quốc gia với các tiêu chuẩn quốc tế. Cụ thể tổng số tiêu chuẩn quốc gia (JIS) hiện hành của Nhật Bản đến năm 2013 là 10399 tiêu chuẩn, số lượng tiêu chuẩn quốc gia hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế là 5725 tiêu chuẩn, trong đó: hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế là 40%, tương đương có sửa đổi với tiêu chuẩn quốc tế là 57% và không tương đương là 3%. [83] Trong “Policy on Standards Adoption of International Standards (Chính sách về tiêu chuẩn chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế)”[71], Ban Tiêu chuẩn Malaysia cũng đã chỉ ra việc thực thi chính sách này đảm bảo rằng việc chấp nhận các tiêu chuẩn quốc tế được thực hiện một cách nhất quán và phù hợp với các chính sách tổng thể và chiến lược đối với tiêu chuẩn quốc gia Malaysia.