Luận án phát triển nông nghiệp bền vững tỉnh Thanh Hóa - Phạm Thị Diệu Linh

Dưới đây là thông tin meta tags cho bài viết: { "ai_description": "Phát triển nông nghiệp bền vững tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh biến đổi khí hậu là một

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

184
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển nông nghiệp bền vững tỉnh Thanh Hóa

Nông nghiệp bền vững tại Thanh Hóa đang đối mặt thách thức kép từ biến đổi khí hậu và nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Tỉnh sở hữu diện tích đất nông nghiệp lớn nhưng chịu tác động tiêu cực từ xâm nhập mặn, hạn hán và lũ lụt. Các nghiên cứu trước đây tập trung vào hiệu quả kinh tế ngắn hạn mà chưa đánh giá đầy đủ tác động môi trường và xã hội. Luận văn này hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp bền vững, phân tích thực trạng tại Thanh Hóa thông qua dữ liệu thứ cấp và khảo sát thực địa. Mục tiêu nhằm đề xuất giải pháp toàn diện nhằm thích ứng biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh lương thực và nâng cao thu nhập cho nông dân. Việc tích hợp khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp được xem là chìa khóa quan trọng trong bối cảnh mới.

1.1. Khái niệm và vai trò của nông nghiệp bền vững

Nông nghiệp bền vững được định nghĩa là hệ thống sản xuất đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm suy giảm tài nguyên cho thế hệ tương lai. Tại Thanh Hóa, khái niệm này thể hiện qua ba trụ cột: kinh tế (nâng cao thu nhập), xã hội (bảo đảm việc làm) và môi trường (giữ gìn đa dạng sinh học). Các chương trình nông thôn mới của tỉnh đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn tồn tại khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn. Nông nghiệp hữu cơ và ứng dụng công nghệ 4.0 đang dần thay thế phương thức sản xuất truyền thống. Việc chuyển đổi này đòi hỏi sự đồng thuận từ cả chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng nông dân.

1.2. Bối cảnh biến đổi khí hậu tại Thanh Hóa

Thanh Hóa nằm trong vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, với tần suất bão lũ tăng 20% trong thập kỷ qua. Mực nước biển dâng ảnh hưởng đến 12 huyện ven biển, gây xâm nhập mặn 3-5km vào nội địa. Nhiệt độ trung bình tăng 0,8°C đã làm thay đổi mùa vụ và giảm năng suất cây trồng. Các huyện như Nga Sơn, Hậu Lộc ghi nhận thiệt hại hàng trăm tỷ đồng mỗi năm do hạn hán. Chính quyền tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp thích ứng nhưng hiệu quả chưa đồng đều giữa các địa phương. Việc đánh giá tác động cụ thể đến từng loại cây trồng là cơ sở quan trọng cho đề xuất giải pháp.

II. Phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hóa sở hữu 600.000ha đất nông nghiệp, chiếm 45% diện tích tự nhiên, nhưng hiệu quả sản xuất chưa tương xứng tiềm năng. Năng suất lúa đạt 52 tạ/ha thấp hơn mức trung bình cả nước 5%. Tỷ lệ trang trại ứng dụng công nghệ cao mới đạt 15%, trong khi mục tiêu là 30% vào năm 2025. Chi phí sản xuất tăng 25% do giá vật tư nông nghiệp leo thang, trong khi giá nông sản biến động thất thường. Hệ thống thủy lợi xuống cấp nghiêm trọng, chỉ 60% công trình hoạt động hiệu quả. Mặt khác, biến đổi khí hậu đã làm giảm 15% diện tích đất canh tác tại các huyện ven biển. Những bất cập này đòi hỏi sự can thiệp kịp thời từ cả chính sách và khoa học.

2.1. Đánh giá hiện trạng sản xuất nông nghiệp

Cơ cấu sản xuất nông nghiệp Thanh Hóa vẫn chủ yếu dựa vào cây lúa (55% diện tích) và chăn nuôi nhỏ lẻ. Các sản phẩm chủ lực như mía, cao su và hồ tiêu có giá trị kinh tế thấp do thiếu liên kết chuỗi. Nông dân chủ yếu sử dụng giống cũ, năng suất thấp và dễ bị sâu bệnh. Hệ thống khuyến nông chưa phát huy hiệu quả khi chỉ 20% nông hộ được tiếp cận dịch vụ tư vấn. Chi phí sản xuất tăng cao do phụ thuộc vào phân bón hóa học và thuốc trừ sâu. Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất còn manh mún, thiếu đồng bộ giữa các ngành.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất

Biến đổi khí hậu đã làm thay đổi mùa vụ tại Thanh Hóa, gây thiệt hại nặng nề cho cây trồng cạn. Lũ lụt vào mùa mưa đã phá hủy 10.000ha đất canh tác trong 5 năm qua. Xâm nhập mặn ảnh hưởng đến 15.000ha đất sản xuất tại huyện Nga Sơn. Nhiệt độ tăng cao làm giảm chất lượng nông sản, đặc biệt là rau màu. Tình trạng hạn hán kéo dài khiến 30% diện tích đất trồng lúa bị thiếu nước tưới. Các giống cây trồng truyền thống không còn phù hợp với điều kiện khí hậu mới. Thiệt hại ước tính lên tới 1.200 tỷ đồng mỗi năm, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của nông dân.

III. Giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng biến đổi khí hậu

Để phát triển nông nghiệp bền vững tại Thanh Hóa, cần triển khai đồng bộ ba nhóm giải pháp: thích ứng biến đổi khí hậu, chuyển đổi cơ cấu sản xuất và nâng cao năng lực nông dân. Thứ nhất, đầu tư vào cơ sở hạ tầng thủy lợi và chống chịu thiên tai. Thứ hai, khuyến khích ứng dụng công nghệ cao và nông nghiệp hữu cơ. Thứ ba, đào tạo nâng cao năng lực quản lý và sản xuất cho nông dân. Các chính sách hỗ trợ cần tập trung vào vùng ven biển và miền núi nơi chịu tác động nặng nề nhất. Việc huy động nguồn lực từ doanh nghiệp và hợp tác xã là yếu tố quan trọng để triển khai hiệu quả. Mục tiêu là nâng cao năng suất lên 60 tạ/ha và giảm 30% phát thải khí nhà kính vào năm 2030.

3.1. Giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu

Thanh Hóa cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm thiên tai dựa trên công nghệ IoT và viễn thám. Đầu tư vào giống cây trồng chống chịu hạn, mặn và sâu bệnh. Xây dựng hệ thống thủy lợi thông minh kết hợp lưu trữ nước mùa mưa phục vụ sản xuất mùa khô. Chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây có giá trị kinh tế cao như dưa lưới, nho. Phát triển mô hình nông nghiệp tuần hoàn nhằm tận dụng phụ phẩm nông nghiệp. Hợp tác với các viện nghiên cứu trong nước và quốc tế để chuyển giao công nghệ mới. Mục tiêu là giảm thiệt hại do thiên tai xuống dưới 5% giá trị sản xuất.

3.2. Giải pháp nâng cao năng lực sản xuất

Thanh Hóa cần triển khai chương trình đào tạo nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào chế biến nông sản để nâng cao giá trị gia tăng. Phát triển hệ thống khuyến nông chuyên nghiệp gắn với các hợp tác xã. Áp dụng tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ để tiếp cận thị trường cao cấp. Xây dựng sàn giao dịch nông sản điện tử kết nối trực tiếp với siêu thị và doanh nghiệp. Chính quyền cần có cơ chế tín dụng ưu đãi cho nông dân ứng dụng công nghệ mới. Mục tiêu là 50% nông hộ đạt trình độ sản xuất tiên tiến vào năm 2025.

IV. Kết luận và khuyến nghị chính sách phát triển nông nghiệp bền vững

Phát triển nông nghiệp bền vững tại Thanh Hóa trong bối cảnh biến đổi khí hậu đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện, tích hợp giữa khoa học, chính sách và cộng đồng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, cần ưu tiên đầu tư vào hạ tầng thích ứng, chuyển đổi cơ cấu sản xuất và nâng cao năng lực nông dân. Các giải pháp ngắn hạn tập trung vào ứng dụng công nghệ, trong khi dài hạn cần thay đổi tư duy sản xuất. Chính quyền tỉnh cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa nông nghiệp, tài nguyên môi trường và khoa học công nghệ. Việc huy động nguồn lực xã hội hóa thông qua hợp tác công tư là yếu tố then chốt. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng nền nông nghiệp Thanh Hóa phát triển bền vững, thích ứng linh hoạt với biến đổi khí hậu.

4.1. Kết luận nghiên cứu

Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Kết quả khảo sát tại Thanh Hóa cho thấy, nông nghiệp tỉnh nhà đang đối mặt thách thức kép từ biến đổi khí hậu và nhu cầu phát triển kinh tế. Hiệu quả sản xuất thấp do phụ thuộc vào giống cũ, công nghệ lạc hậu và thiếu liên kết chuỗi. Biến đổi khí hậu đã làm gia tăng rủi ro sản xuất, đặc biệt tại các huyện ven biển. Giải pháp đề xuất tập trung vào thích ứng biến đổi khí hậu, chuyển đổi cơ cấu sản xuất và nâng cao năng lực nông dân.

4.2. Khuyến nghị chính sách

Chính quyền tỉnh Thanh Hóa cần ban hành chính sách ưu đãi đặc biệt cho vùng ven biển và miền núi. Xây dựng quỹ hỗ trợ nông dân ứng dụng công nghệ mới thông qua hợp tác xã. Đẩy mạnh liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị từ khâu giống đến tiêu thụ. Tăng cường hợp tác quốc tế trong chuyển giao công nghệ nông nghiệp. Áp dụng cơ chế thưởng phạt rõ ràng trong sử dụng tài nguyên đất và nước. Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nông nghiệp chuyên nghiệp, năng động. Chính sách cần ưu tiên nguồn lực cho nghiên cứu khoa học nông nghiệp tại địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Luận văn tiến sĩ kinh tế phát triển nông nghiệp bền vững tỉnh thanh hóa trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Tổng quan về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp bền vững 1.1 Tài liệu trong nước 1. Nông nghiệp: quan niệm và bản chất Học giả Nguyễn Minh Châu trong cuốn giáo trình “Kinh tế nông nghiệp đại cương” xem nông nghiệp như là một hệ thống sản xuất gồm nhiều hệ thống nông nghiệp chuyên ngành [5]. Ví dụ hệ thống trồng trọt và hệ thống chăn nuôi.

Trong lĩnh vực trồng trọt học giả này dẫn chứng các hệ thống canh tác nông nghiệp ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Ông đề cập đến hệ thống canh tác lúa, hệ thống canh tác mía đường, hệ thống canh tác dừa, hệ thống canh tác dứa và các hệ thống chăn nuôi như chăn nuôi lợn, chăn nuôi vịt, nuôi cá tra. Ông cho rằng, sự phát triển của các hệ thống nông nghiệp nên gắn với du lịch miệt vườn và như thế phát triển các hệ thống nông nghiệp sẽ đem lại hiệu quả kinh tế hơn so với sản xuất nông nghiệp riêng rẽ, phân tán. Học giả Đặng Hữu, trong khi nói về kinh tế tri thức nhấn mạnh hai vấn đề hiện đại hóa và phát triển nhân lực chất lượng cao [22].

Trong đó ông cho rằng, điểm yếu của Việt Nam hiện nay là nhân lực nông nghiệp tuy nhiều nhưng chất lượng thấp, chủ yếu là lao động thủ công, truyền thống và dựa trên kinh nghiệm lâu năm nên khi chuyển sang phát triển kinh tế tri thức gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng công nghệ cao và tham gia toàn cầu hóa. Theo học giả Nguyễn Đình Thắng, nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quốc dân; đồng thời nó còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật [39]. Nông nghiệp có vai trò to lớn đối với nền kinh tế quốc dân. Trước hết nó cung cấp đầu vào cho công nghiệp (với tư cách là nguyên liệu), cung cấp lao động cho khu vực công nghiệp, dịch vụ và đô thị.

Đồng thời, ông cho biết nông nghiệp gắn với nông thôn nên phát triển nông nghiệp không tách rời phát triển nông thôn và nông dân không tách rời nông thôn và nông nghiệp. Học giả Thắng còn cho biết hệ thống nông nghiệp có những đặc điểm chủ yếu như sau: Sản xuất nông nghiệp là hệ thống kinh tế - kỹ thuật hỗn hợp, phức tạp, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà trước hết là yếu tố khí hậu, thời tiết, đất đai, tiếp đến là 12 phụ thuộc vào yếu tố khoa học công nghệ. Đây là quan điểm nặng về coi trọng các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật canh tác mà chưa chú ý đúng mức tới yếu tố thị trường và tiến bộ khoa học công nghệ mà thực tế phát triển nông nghiệp trên thế giới đã chỉ ra mà điển hình như trường hợp của nông nghiệp Israel hay nông nghiệp của New Zealand, Mỹ, Nhật Bản. Nông nghiệp gắn với hệ thống các hoạt động sản xuất tiến hành trên địa bàn thường trải rộng nên nếu không được tổ chức sẽ phân tán, không tạo ra khối lượng hàng hóa lớn và cùng có chất lượng cao.

Mặt khác, học giả Thắng cho biết sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời vụ. Đồng thời, sản xuất nông nghiệp hình thành và phát triển bởi nhiều chủ thể và dưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau. Tư tưởng này đúng với thời kỳ công nghệ chưa phát triển mạnh mẽ. Tác giả đồng tình với học giả (Lương Tất Thắng) cho rằng, ngày nay khi công nghệ tiến bộ nhanh chóng thì sản xuất trái vụ đã trở thành yếu tố mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người nông dân [42].

Học giả Lương Tất Thắng trong luận án tiến sĩ “Nâng cao hiệu quả phát triển nông nghiệp vùng miền núi Thanh Hóa” [42] và Đào Duy Huân [21] khi nghiên cứu về tăng trưởng bền vững đã cho rằng, nông nghiệp là một hệ thống gồm có trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Khi nói đến nông nghiệp với tư cách là một hệ thống sản xuất thì không thể không nói đến sự gắn bó giữa nông nghiệp với công nghiệp chế biến, phân phối và tiêu thụ nông sản. Đồng thời, ngoài người nông dân còn phải kể đến sự tham gia của nhà nước, nhà khoa học, nhà công nghiệp chế biến, nhà phân phối và người tiêu dùng. Phát triển nông nghiệp bền vững được xem là khi các chỉ số hiệu quả kinh tế đối với phát triển nông nghiệp có mức tăng tương đối ổn định và tổn thất do thiên tai giảm đi cũng ở mức ổn định cần thiết.

Đây là quan điểm đúng và sẽ được kế thừa. Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2008 đến năm 2013 đã ban hành nhiều quyết định mà trong đó có chủ trương về phát triển nông nghiệp Việt Nam theo hướng bền vững, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học - công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, 13 bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài; nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân. Ở Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã xuất hiện nhiều hình thức sản xuất, trong đó tiêu biểu là hình thức trang trại, gia trại và khu nông nghiệp tập trung công nghệ cao [72]. Trang thông tin còn cho biết rằng ở Bắc Ninh hiện đã có 145 trang trại và 2.855 gia trại; còn ở Ninh Bình có 208 trang trại và 27.

Tuy nhiên, tác giả luận án chưa thấy có đánh giá cụ thể về hiệu quả phát triển các hình thức sản xuất này. Học giả Phạm Chí Thành, khi bàn về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp không thể không bàn đến hệ thống nông nghiệp [34]. Ông cho biết, hệ thống nông nghiệp là hệ thống thứ bậc bị chế định bởi các hệ sinh thái nông nghiệp gắn liền với các yếu tố sinh thái, kinh tế và con người với quy mô từ phạm vi một vùng chuyên môn hóa đến một trang trại. Ở Việt Nam đang cùng tồn tại nông nghiệp du canh, nông nghiệp du mục, nông nghiệp tư cung tự cấp quy mô nhỏ, nông nghiệp bán tự cung tự cấp và nông nghiệp sản xuất hàng hóa.

Hệ thống nông nghiệp có quan hệ mật thiết với hệ sinh thái nông nghiệp. Học giả Ngô Thúy Quỳnh, khi bàn về tổ chức lãnh thổ kinh tế ở Việt Nam đã đề cập đến việc tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp (mà hình thức tiêu biểu là Khu nông nghiệp công nghệ cao và Tổ hợp nông - công nghiệp) [32]. Học giả này đề xuất phải phát triển mạnh các Tổ hợp sản xuất lãnh thổ trên cơ sở phát triển vùng nguyên liệu gắn với nhà máy công nghiệp chế biến. Đây là tư tưởng hay để hướng tới phát triển nông nghiệp hiện đại mà nhờ thế sẽ đem lại hiệu quả cao đối với sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.

Phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu Nhìn chung chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu, các công trình đã nghiên cứu thì chưa đề cập một cách đủ mức về phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Vào tháng 6 năm 2019 ở thành phố Hồ Chí Minh diễn ra Hội nghị tổng kết thực hiện Nghị quyết 120 [88] đã chỉ ra rằng, Chính phủ đã đầu tư lớn cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long để xây dựng kết cấu hạ tầng, nghiên cứu tạo giống cây trồng, chuyển đổi mô hình canh tác và chuyển đổi mô hình nuôi thủy sản thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu. để vùng này có được sự phát triển 14 bền vững. Tuy nhiên hàng năm thiệt hại do biến đổi khí hậu như sạt lở bờ sông, sạt lở bờ biển (mỗi năm vùng Đồng bằng sông Cửu Long mất khoảng 300 ha bởi biển lấn), ngập úng khi triều cường và mưa to, xâm nhập mặn làm diện tích lớn trồng lúa bị thiệt hại, nhiều diện tích cây ăn trái bị hỏng.

làm cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa có sự phát triển bền vững. Khi nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Thừa Thiên Huế, Tấn Viết Nguyên, đã chỉ ra rằng, nông nghiệp là một ngành nhạy cảm, phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu, thời tiết [28]. Vì thế, nên nhận biết nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu và phải đặc biệt coi trọng mối quan hệ giữa phát triển bền vững với ứng phó biến đổi khí hậu. Nông nghiệp của tỉnh Thừa Thiên Huế gắn chặt với phát triển du lịch sinh thái.

Vì thế nó cần được tổ chức một cách khoa học và phát huy đầy đủ các giá trị truyền thống phục vụ việc trải nghiệm của du khách. Theo Trịnh Kim Liên [61], trong Báo cáo đề tài khoa học của Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng giá trị cao, bền vững và kinh tế xanh cho rằng, “nông nghiệp là một hệ thống kinh tế phức tạp, vận động không ngừng trong bối cảnh toàn cầu hóa; và phát triển nông nghiệp bền vững đạt được khi đạt được hiệu quả luôn ở mức cao”. Tập thể các nhà khoa học của Viện này cho rằng, nông nghiệp là hệ thống kinh tế nhưng không độc lập mà nó gắn kết chặt chẽ với công nghiệp chế biến và mạng phân phối. Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội lấy yếu tố thị trường và yếu tố công nghệ làm nền tảng để gia tăng phát triển cả về số lượng và chất lượng.

Chính phủ Việt Nam rất coi trọng phát triển nông nghiệp bền vững. Vào năm 2010 và 2013, Chính phủ Việt Nam triển khai Đề án “Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao” phục vụ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh đến năm 2020 [48], [49]. Trong đề án đã xác định tái cơ cấu sử dụng đất và đổi mới cơ cấu cây trồng là phương hướng quan trọng đối với phát triển nông nghiệp và thủy sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ