MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cát cánh (Platycodon grandiflorum hay Platycodon grandiflorus) thuộc họ Hoa chuông (Campanulaceae), có nguồn gốc từ vùng ôn đới như: Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên, Hoa Kỳ … Cát cánh có một số thành phần chính như sau: Polygalain acid, A-spinasteryl-b-D-glucoside, Platycodigenin, Betulin, Platycogenic acid, Alpha-spinasterol, Stigmasterol, Kikyosaponin. Ở hoa, lá, cành, hàm lượng Saponin cao hơn ở rễ. Cát cánh có tác dụng trừ đờm, long đờm do hoạt động của Saponin.
Khi uống làm kích thích niêm mạc cổ họng và dạ dày, từ đó tăng phân tiết chất nhầy đường hô hấp làm cho đờm loãng và dễ tống xuất ra ngoài. Ngoài các hoạt động dược lý trên, cát cánh còn có tác dụng chống béo phì, hoạt động điều hòa miễn dịch, chống mệt mỏi, chống tổn thương phổi và các hoạt động sinh học khác. Trong quá trình đầu tư thâm canh, khi diện tích trồng cát cánh ngày càng tăng cao trong những năm gần đây, sản xuất cát cánh đã chịu ảnh hưởng lớn do sâu bệnh hại tại một số nước trồng cát cánh. Tại Trung Quốc, đã xác định được bệnh cháy lá do nấm Nigrospora sphaerica gây ra, bệnh thối thân và thối củ do nấm Fusarium armeniacum gây ra, bệnh đốm xám lá do nấm Stemphylium platycodontis gây ra.
Tại Hàn Quốc, cây cát cánh thường bị nhiễm bởi một số loại bệnh như: bệnh cháy lá do vi khuẩn, đốm lá, bệnh thán thư, bệnh héo rũ, héo Fusarium, thối Sclerotinia, thối hoa, thối thân và thối củ. Trong số các bệnh nêu ở trên, bệnh thối thân và thối củ là đối tượng gây hại nghiệm trọng nhất. Tại Việt Nam, cát cánh bắt đầu được di thực vào Việt Nam từ những năm 60 của thế kỷ trước bởi Viện Dược liệu. Ban đầu, cát cánh được di thực về vùng núi cao Sa Pa và Bắc Hà, sau đó di thực dần xuống các vùng thấp hơn như Tam Đảo, Hà Nội, Ninh Bình.
Cây sinh trưởng phát triển tốt ở cả miền núi và đồng 1 bằng và đã được phát triển trồng đại trà tại một số vùng trồng dược liệu như: Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hải Dương và Hà Nội. Tại Lào Cai, trong niên vụ 2019 - 2020, với cát cánh có năng suất trung bình đạt 5,5 tấn củ/ha, giá bán trung bình là 25.000 đồng/kg người trồng đã thu được khoảng 140 triệu đồng/ha cao gấp hàng chục lần so với việc trồng ngô (Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai năm 2021). Tuy nhiên, từ thực tế triển khai trồng cây cát cánh tại đây đã phát sinh những thách thức không nhỏ. Có vườn bị thiệt hại lớn do sâu bệnh gây ra có nơi tỷ lệ bệnh giao động từ 30 - 50%, có nơi lên đến 80% gây chết hàng loạt cây con, khuyết mật độ cây, giảm năng suất và chất lượng củ.
Đến thời điểm hiện nay, các loại bệnh này vẫn chưa được xác định nguyên nhân nên gặp khó khăn trong việc đưa ra những giải pháp phòng chống hiệu quả. Trong lúc đó, người trồng cát cánh do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng để lại dư lượng trong sản phẩm. Điều này đã gây rào cản cho người dân và doanh nghiệp trong việc tiếp tục đầu tư trồng, thâm canh và mở rộng diện tích trồng cây cát cánh. Vì vậy, việc tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và bệnh thối thân, thối củ trên cây cát cánh (Platycodon grandiflorus) tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai” là nhiệm vụ cấp bách góp phần giúp bà con dân tộc thiểu số của tỉnh Lào Cai yên tâm đầu tư, ổn định sản xuất, đảm bảo diện tích và sản lượng góp phần đảm bảo an sinh - xã hội và từng bước làm giàu cho người dân địa phương.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2. Mục tiêu chung của đề tài Nghiên cứu xác định nguyên nhân và đánh giá hiệu quả của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng của cây cát cánh và bệnh thối thân, thối củ. Yêu cầu cụ thể của đề tài - Xác định nguyên nhân gây bệnh thối thân và thối củ trên cây cát cánh tại tỉnh Lào Cai. - Nghiên cứu hiệu lực của một số loại thuốc sinh học và hoá học đối với bệnh thối thân, thối củ trên cây cát cánh.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp canh tác đến bệnh thối thân và thối củ trên cây cát cánh tại Lào Cai. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Lần đầu tiên xác định được nguyên nhân gây bệnh thối thân và thối củ trên cây cát cánh tại Việt Nam nói chung và tỉnh Lào Cai nói riêng dựa trên đặc điểm hình thái và phân tích DNA của tác nhân gây bệnh. - Xác định được ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng của cây cát cánh tại tỉnh Lào Cai.
- Xác định được một số biện pháp kỹ thuật phòng chống bệnh thối thân và thối củ trên cây cát cánh tại tỉnh Lào Cai. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học và là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu cây cát cánh nói riêng và cây dược liệu nói chung. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Việc xác định được nguyên nhân gây bệnh thối thân và thối củ trên cây cát cánh, đánh giá được hiệu quả của kỹ thuật xử lý đất trước khi trồng và hiệu lực của một số chế phẩm sinh học, hóa học đối với bệnh; xác định được một số biện pháp kỹ thuật canh tác nhằm nâng cao năng suất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tình hình nghiên cứu cát cánh trên thế giới 1. Nguồn gốc, phân bố, giá trị dược liệu a. Nguồn gốc, phân bố Cát cánh hay kết cánh (Platycodon grandiflorum hay P. grandiflorus) là loài cây thân thảo có hoa lâu năm thuộc Họ Cây cát cánh.
Loài này có nguồn gốc từ Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Viễn Đông Nga và Đông Siberi) với các hoa lớn màu xanh lam (East Asia Biodiversity Conservation Network, 2015). Cây lớn cao 30cm đến khoảng 60cm với lá màu xanh đậm và hoa màu xanh vào cuối mùa hè. Một đặc điểm đáng chú ý của cây là nụ hoa, phình ra như một quả bóng trước khi nở bung hoàn toàn. Năm cánh hoa được hợp nhất với nhau thành hình chuông ở gốc giống như các cây thuộc Họ cây cát cánh.
Đây là một loại cây lâu năm thường được trồng ở vùng núi. Cây cao 40 - 100cm có rễ dày và nhựa trắng chảy ra khi thân cây bị cắt, lá dài từ 5 - 12cm, có đầu lá hẹp và viền hình răng cưa ở mép lá. Hoa nở màu tím hoặc trắng vào tháng 7 - 8, với một hoặc một số ở cuối thân chính chạy lên. Tràng hoa có hình dạng của một chiếc chuông mở, với phần cuối đài hoa được chia thành 5 nhánh và có 5 nhị hoa và 1 nhụy hoa.
Quả có hình dạng quả nang hình trứng và chín với một mảnh đài hoa. Cây chủ yếu trồng trên khắp Nhật Bản, Trung Quốc và phía đông Siberia, bao gồm Bán đảo Triều Tiên (Royal Horticultural Society, 2008; Nyakudya và cs. Giá trị sử dụng - Nguyên liệu chế biến món ăn trong ẩm thực Hàn Quốc, cây cát cánh được gọi là doraji. Rễ tươi hoặc khô, là một trong những loại rau namul phổ biến nhất và cũng là một trong những thành phần thường sử dụng nhất trong món bibimbap.
Đôi khi, gạo được nấu với rễ cây cát cánh để làm doraji-bap. Củ cây cát cánh được sử dụng làm nguyên liệu cho các món kim chi, rau. Củ 4 cát cánh cũng được sử dụng để làm món tráng miệng, ví dụ như doraji- jeonggwa. Nước xi-rô làm từ củ được gọi là doraji-cheong (mật ong củ cây cát cánh) để làm doraji-cha (trà củ cây cát cánh).
Ngoài ra còn dùng với rượu gọi là doraji-sul, thông thường sử dụng soju chưng cất hoặc rượu mạnh không có hương vị khác có ABV cao hơn 30% (Nyakudya và cs. Nguyên liệu làm thuốc Trong y học Trung Quốc, cây cát cánh còn được gọi là Gilkyung và được sử dụng làm thuốc chữa đau thần kinh và viêm amidan. Củ cây cát cánh có chứa saponin và được sử dụng làm thuốc thảo dược. Củ chứa calci, chất xơ, sắt, khoáng chất, protein và vitamin.
Ngoài ra, củ còn được dùng là thuốc tiêu đờm, thuốc ho, thuốc giảm đau, làm dịu, hạ sốt, chống viêm, có tác dụng giảm cholesterol và cũng hiệu quả trong các bệnh mạch máu và tăng huyết áp. Cây cát cánh dùng cho cảm lạnh rất tốt, có thể dùng cho các bệnh hô hấp, cũng như hen suyễn, vì vậy nó tốt cho trẻ em hoặc người già có khả năng miễn dịch yếu và những người căng thẳng thường xuyên. Nó cũng được sử dụng làm một loại thuốc thảo dược như Dorajitang, Sib-mi-pae-dok-tang, Bang-pung-tong-seong- san, Baeng-nong-san (Nyakudya và cs. Một số yêu cầu ngoại cảnh đối với cây cát cánh a.
Điều kiện canh tác Cây có khả năng chống chịu tới -15°C, và do đó có thể được trồng ở tất cả các vùng ôn đới. Cây phát triển yếu dần trong mùa đông, rồi xuất hiện trở lại vào cuối mùa xuân và ra hoa vào mùa hè. Mặc dù loài cây này có hoa màu xanh lam, nhưng có những giống có hoa màu trắng, hồng và tím. Cát cánh thích hợp trồng ở đất tương đối tơi xốp, nhất là đất dốc, núi, địa hình nửa bóng nửa nắng là tốt nhất, địa hình bằng phẳng cần có điều kiện thoát nước tốt.
Cát cánh không nên trồng liên tục trong khoảng thời gian dài. Cây cát cánh ưa đất mùn, giàu hữu cơ, thoát nước tốt. Không phát triển tốt trong đất nén 5 chặt, như đất sét; ưa thích độ pH của đất trong khoảng 5,5 đến 7,5. Cát cánh có rễ củ dài nên trồng thành luống là tốt nhất.
Vào đầu mùa xuân, rắc phân chuồng và cày xới mặt đất cho phẳng (sâu 30cm). Khi làm luống, đầu tiên làm đường lưới trên mặt đất cách nhau 2m, mở rãnh, sau đó chia đất trong rãnh sang hai bên để làm luống với chiều rộng luống 1,7m và chiều rộng rãnh khoảng 30cm (Royal Horticultural Society, 2008) b. Yêu cầu về nhiệt độ và ánh sáng Cây cát cánh cứng cáp và phát triển tốt ở các vùng có phạm vi nhiệt độ lý tưởng là từ 15 - 27oC, nhưng chúng có thể chịu được nhiệt độ cao hơn nếu có bóng râm vào buổi chiều. Sương giá có thể làm chết cây non.
Cây cát cánh chịu được cả điều kiện không khí ẩm và khô, miễn là đất có đủ độ ẩm (Royal Horticultural Society, 2008).