Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Năng suất, chất lượng của cây trồng được nâng cao là kết quả của việc áp dụng các tiến bộ trong kỹ thuật như giống, phân bón, thời vụ, mật độ, chế độ tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh, … vào sản xuất. Trong đó, giống là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định đến năng suất, chất lượng cây trồng. Tuy nhiên, một giống chỉ được coi là thực sự phát huy hiệu quả khi có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt và thích hợp với điều kiện sinh thái của vùng sản xuất.
Vì vậy các giống mới trước khi đưa vào vùng sản xuất cần được nghiên cứu chọn lọc để đánh giá đầy đủ, khách quan khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu với những điều kiện bất lợi và khả năng thích nghi của giống với vùng sinh thái. Đối với cây ngô đường, không giống như các giống ngô thường, ngô đường được thu hoạch khi hạt ở giai đoạn đầu chín sáp và được dùng như một loại rau hơn là như một loại hạt ngô bình thường. Trong quá trình phát triển của bắp ngô, khi đường bắt đầu chuyển đổi thành tinh bột thì ngô sẽ kém ngọt. Vì vậy ngô được phải dùng ăn tươi, đóng hộp, hoặc đông lạnh trước khi các hạt ngô hoá bột.
Trong quá trình bảo quản ngô đường tươi, hàm lượng đường, tinh bột, đạm và ẩm độ trong hạt có sự biến đổi nhanh chóng làm giảm chất lượng. Do đó cần xác định thời gian và phương pháp bảo quản phù hợp, hạn chế những biến đổi hóa sinh trong quá trình bảo quản nhằm đảm bảo chất lượng ngô đường sau thu hoạch. Xuất phát từ nhu cầu thực tế, chúng tôi đã tiến hành đề tài này để xác định được giống ngô đường có năng suất cao để mở rộng sản xuất và xác định thời gian bảo quản đảm bảo chất lượng ngô đường sau thu hoạch. Tình hình sản xuất ngô đường trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất ngô đường trên thế giới Sản xuất ngô đường trên thế giới phát triển với tốc độ khá nhanh. Những năm 1960, cả thế giới chỉ có trên 750 nghìn ha ngô đường với sản lượng khoảng 4 triệu tấn. Những năm 1970, 1980, diện tích trên 880 nghìn ha, sản lượng trên 6 triệu tấn. Đến những năm 90, diện tích là trên 900 nghìn ha, sản lượng đạt trên 8 triệu tấn và đến năm 2003, cả thế giới đã có 1,24 triệu ha ngô đường với sản lượng 9,81 triệu tấn.1: Tình hình sản xuất ngô đường trên thế giới giai đoạn 2000 - 2011 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2000 1,46 64,64 9,41 2001 1,35 71,21 9,64 2002 1,19 78,61 9,42 2003 1,24 78,84 9,81 2004 1,22 79,11 9,65 2005 1,26 76,00 9,55 2006 1,05 89,49 9,41 2007 1,06 89,91 9,51 2008 1,05 88,51 9,33 2009 0,98 93,78 9,20 2010 1,09 81,25 8,92 2011 1,09 82,38 8,96 Nguồn: FAOSTAT, 2013[27] Trong những năm gần đây, sản xuất ngô đường trên thế giới có xu hướng tăng về năng suất, giảm về diện tích.
Điều đó phù hợp với xu hướng n 6 chung của sản xuất nông nghiệp trên thế giới. Do dân số gia tăng, tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh như vũ bão, dẫn đến diện tích nông nghiệp bị thu hẹp. Để đảm bảo nhu cầu tiêu thụ ngô đường ngày càng tăng cao, trong khi diện tích gieo trồng ngày càng giảm thì giải pháp tốt nhất là tìm các biện pháp để tăng năng suất. Nếu như năm 2000, diện tích trồng ngô đường là 1,46 triệu ha, năng suất đạt 64,64 tạ/ha, sản lượng 9,41 triệu tấn, thì đến năm 2011 diện tích là 1,09 ha, năng suất đạt 82,38 tạ/ha và sản lượng là 8,96 triệu tấn, trong 11 năm năng suất tăng 17,74 tạ/ha nhưng diện tích giảm 0,37 triệu ha, dẫn đến sản lượng giảm.
Diện tích đạt cao nhất vào năm 2000, năng suất cao nhất năm 2009 đạt 93,78 tạ/ha và sản lượng cao nhất vào năm 2003 là 9,81 triệu tấn (FAO, 2013)[27]. Sản xuất ngô đường trên thế giới có sự khác biệt khá lớn giữa các châu lục và các quốc gia. Theo số liệu thống kê của FAO thì năm 2010 châu Phi có diện tích trồng ngô đường lớn nhất thế giới với 461,04 nghìn ha, tuy nhiên năng suất ngô đường của châu lục này lại rất thấp chỉ đạt 36,09 tạ/ha, bằng 44,4% năng suất bình quân của thế giới. Đứng thứ 2 về diện tích và năng suất ngô đường trên thế giới là châu Mỹ với diện tích 387,496 nghìn ha; năng suất đạt 136,11 tạ/ha cao gấp gần 1,7 lần năng suất ngô bình quân của thế giới và sản lượng ngô đường của châu lục này cao nhất thế giới với 5,27 triệu tấn, chiếm gần 60% sản lượng ngô đường toàn thế giới.
Châu Á có diện tích ngô đứng thứ 3 trên thế giới nhưng năng suất ngô lại chỉ đạt 51,82 tạ/ha, thấp hơn năng suất ngô bình quân của thế giới 29,43 tạ/ha. Châu lục có năng suất ngô đường đứng đầu là châu Âu với năng suất cao gấp 1,8 lần năng suất bình quân của thế giới. Năng suất ngô đường có sự biến động lớn như trên là do sự chênh lệnh lớn về trình độ khoa học kỹ thuật ở các châu lục. Ở các nước đang phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế, chưa tạo ra được những giống ngô đường phù hợp cho sản xuất, chưa có sự quan tâm đúng mức đối với sản n 7 xuất ngô đường.
Mặt khác, do điều kiện khí hậu, đất đai không thuận lợi đã gây ra những hạn chế trong quá trình sản xuất ngô đường làm cho năng suất và sản lượng ngô đường ở các nước này còn thấp. Ở những nước phát triển, do có trình độ khoa học kỹ thuật cao, đầu tư thâm canh hợp lý nên năng suất ngô tăng cao.2: Tình hình sản xuất ngô đường của các châu lục trên thế giới năm 2010 Diện tích Năng suất Sản lượng Khu vực (nghìn ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Châu Phi 461,04 36,09 1,66 Châu Mỹ 387,50 136,11 5,27 Châu Á 171,41 51,82 0,89 Châu Âu 48,52 148,82 0,72 Châu Úc 29,57 126,20 0,37 Nguồn: FAOSTAT, 2013[27] 1. Tình hình sản xuất ngô đường ở Việt Nam Ở Việt Nam, ngô thực phẩm là một khái niệm còn khá mới mẻ. Trước đây, ở nước ta chỉ có truyền thống trồng ngô nếp địa phương làm ngô thực phẩm, hoàn toàn không có tập quán sử dụng ngô rau, ngô đường.
Đứng trước nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu, công tác chọn tạo giống ngô đường là một nhiệm vụ cấp bách của các nhà chọn giống hiện nay. Ngô đường mới chỉ được nhập nội vào nước ta từ khoảng hơn 10 năm qua. Một số giống ngô đường đưa vào sản xuất đại trà như giống: Sakita (ngô siêu ngọt), giống ngô ngọt (F1) TN115, Sugar 75,. Việt Nam bắt đầu xuất khẩu ngô đường từ năm 2000, sau 5 năm thu nhập từ xuất khẩu ngô đường đã tăng từ 270,4 nghìn đô la (năm 2000) lên 1084 nghìn đô la (năm 2005), tăng gấp 4 lần.
Kết quả điều tra sơ bộ tại công ty xuất nhập khẩu Đồng Giao tháng 6 năm 2008 cho thấy: Hàng năm, công ty n 8 đã sử dụng 2500 - 2800 kg hạt giống để phục vụ sản xuất lấy sản phẩm làm nguyên liệu cho đóng hộp xuất khẩu. Sản lượng ngô đường đóng hộp hàng năm là 4000 tấn [33]. Ngoài ra, khu vực miền Bắc còn có nhiều nhà máy chế biến ngô đường như: Nam Định, Nam Hà, Hưng Yên… Điều đó chứng tỏ nhu cầu sản xuất, chế biến, tiêu thụ còn rất lớn. Tình hình nghiên cứu ngô đường trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình nghiên cứu ngô đường trên thế giới Cây ngô đường được phát hiện từ năm 1770 ở vùng Pennsylvania nhưng đến năm 1779, lần đầu tiên cây ngô đường mới được nhắc đến bởi những người dân da đỏ ở lưu vực sông Susquehanna. Ngô đường nhanh chóng trở thành một loại rau phổ biến ở các vùng miền Nam và miền Trung của Hoa Kỳ (Sweet_corn, 2008)[26]. Đến những năm 1960, ngô đường mới thực sự phát triển ở nhiều nước Anh, Mỹ và trở thành một loại thực phẩm được yêu thích tại miền Nam và trung tâm của nước Mỹ vào năm 1880 [23]. Ban đầu, hầu hết những giống ngô đường đều có nội nhũ trắng như “Country Gentleman”.
Năm 1902, các quần thể có nội nhũ trắng được thay đổi nhờ sự giao phấn tự do với nguồn ngô đường tên là “Golden Bantam” hình thành loại ngô đường hai màu, vàng - trắng. Tuy nhiên, ngô đường màu vàng vẫn được yêu thích nhất, từ đó công ty giống W. Atlee Burpee chính thức công bố tên các giống ngô đường có nội nhũ vàng và phát triển cho tới ngày nay (Nguyễn Thế Hùng, 1995)[4]. Cây ngô đường được phát hiện từ đột biến tinh bột do 2 gen lặn Sugary (su).
Những biến đổi của gen (su) trong bộ gennom có ảnh hưởng trực tiếp đến hàm lượng đường ở ngô. Một số biến đổi khác của gen (su) đã được tìm thấy như gen Sugary enhanced (se) và Shrunken (Sh2). Theo phân loại của các nhà khoa học thuộc trường Đại học Oregon (2004)[18] ngô đường được chia thành 3 loại: n 9 - Ngô ngọt thông thường (chứa cặp gen susu): Có hàm lượng đường từ 5-10%, chủ yếu dùng để ăn tươi. Hạt giống có thể nảy mầm ở điều kiện nhiệt độ 12-150C.
- Ngô ngọt tăng cường (có chứa cặp gen sese): Có hàm lượng đường từ 12- 20%, hạt mềm, có hương vị ngon. Hạt giống có thể nảy mầm ở điều kiện nhiệt độ từ 12-150C. - Ngô siêu ngọt (chứa gen sh2): Có hàm lượng đường từ 20-30%, hạt có dạng kem, cấu trúc hạt giòn hơn và ngọt hơn dạng ngô ngọt thông thường và ngô ngọt tăng cường, hạt nhẹ hơn và nhăn hơn. Hạt giống nảy mầm kém hơn trên đất khô (độ ẩm nhỏ hơn 65%).F và cộng sự dựa trên di truyền phân tử phân thành 4 nhóm là su1, su2, se và sh2, 4 nhóm này khác nhau chủ yếu về khả năng tổng hợp đường, độ mềm của nội nhũ (Tom Barnes và cộng sự, 2001)[22].
Dạng gen (se) được trường Đại học Illinois tại Urbana-Champaign (Mỹ) phát hiện từ những năm 1960. Dạng ngô đường có chứa gen (se) có thể phát triển tương tự dạng chứa gen (su). Ngô đường chứa gen (se) làm tăng độ ngọt của ngô, alen (se) có thể lưu trữ đường được lâu hơn và có chứa hàm lượng đường lớn gấp 12-20% so với các giống (su) (Blake Myers)[15]. Dạng ngô đường chứa gen ở trạng thái lặn sh2 được gọi chung là ngô siêu ngọt (supersweet).