Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong công tác phát triển lâm nghiệp, việc trồng rừng đóng vai trò quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản ngoài gỗ, đồng thời thực hiện các chức năng phòng hộ đầu nguồn, cải thiện cảnh quan và điều hòa khí hậu. Tình trạng suy giảm diện tích rừng tự nhiên do áp lực gia tăng dân số và phát triển công nghiệp đã dẫn đến nhiều hệ lụy sinh thái như xói mòn, rửa trôi đất, cạn kiệt nguồn nước và suy giảm tính đa dạng sinh học. Nhằm nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng, khâu chọn tạo và cải thiện giống cây rừng giữ vai trò mang tính quyết định.
Cây Xoan ta (Melia azedazach L.), còn gọi là xoan nhà hay xoan trắng, thuộc chi Melia, họ Xoan (Meliaceae), bộ Bồ hòn (Sapindales). Đây là loài cây gỗ nhóm V có tốc độ sinh trưởng nhanh, biên độ sinh thái rộng, khả năng tái sinh chồi từ gốc từ 3 đến 4 lần sau khi khai thác, và đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định là một trong những loài cây trồng rừng sản xuất chủ lực cho 6 trên 9 vùng sinh thái lâm nghiệp tại Việt Nam. Mặc dù cây Xoan ta mang lại giá trị kinh tế và phòng hộ cao, nhưng tại khu vực miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, các nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá khả năng sinh trưởng của các xuất xứ Xoan ta khác nhau vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Do đó, đề tài "Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số xuất xứ loài Xoan ta (Melia azedazach L.) trong giai đoạn vườn ươm ở Trung tâm Nghiên cứu Lâm Nghiệp Vùng núi phía Bắc - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên" được tác giả Nông Quốc Cường thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Thị Thu Hà.
Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể trong văn bản như sau:
- Mục đích nghiên cứu:
- Tìm ra xuất xứ sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong điều kiện tự nhiên ở khu vực vùng núi phía Bắc Việt Nam để phục vụ nhân giống và đưa vào sản xuất đại trà.
- Tạo ra lượng cây con đảm bảo chất lượng và số lượng phục vụ trồng rừng khảo nghiệm ở giai đoạn tiếp theo.
- Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá được khả năng sinh trưởng và phát triển của các xuất xứ Xoan ta ở giai đoạn vườn ươm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: 4 lô hạt giống Xoan ta đại diện cho 4 xuất xứ địa lý gồm Ninh Thuận (Công thức I), Bình Thuận (Công thức II), Thanh Hóa (Công thức III) và Bắc Kạn (Công thức IV).
- Phạm vi nghiên cứu: Tỷ lệ nảy mầm hình thành cây của các lô hạt, tỷ lệ sống, mức độ sâu bệnh hại, tỷ lệ xuất vườn và các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao vút ngọn $H_{vn}$, đường kính gốc $D_{00}$) trong giai đoạn vườn ươm.
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 15/01/2014 đến ngày 30/05/2014.
- Địa điểm nghiên cứu: Vườn ươm thuộc Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Vùng núi phía Bắc, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của khóa luận dựa trên các nguyên lý chọn giống và cải thiện giống cây rừng được hệ thống hóa bởi Zobel và Talbert (1984), cùng các văn bản quy phạm kỹ thuật của ngành lâm nghiệp Việt Nam:
- Khung lý thuyết và khái niệm: Nghiên cứu phân định rõ các khái niệm Di truyền học cây rừng (Forest tree genetics), Chọn giống cây rừng (Forest tree breeding) và Cải thiện giống cây rừng (Forest tree improvement). Khảo nghiệm xuất xứ (provenance trial) được xem là phương pháp chọn giống nhanh và tiết kiệm chi phí thông qua việc khai thác biến dị di truyền tự nhiên gắn liền với các vùng sinh thái địa lý. Nghiên cứu tuân thủ các quy định tại "Quy phạm xây dựng rừng giống và vườn giống" và "Quy phạm xây dựng rừng giống chuyển hóa" do Bộ Lâm nghiệp ban hành năm 1994.
- Thiết kế thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn thiện ngẫu nhiên dạng khối cột - hàng (Row-Column Design). Thí nghiệm gồm 4 công thức (tương ứng với 4 xuất xứ) và 3 lần lặp lại, hình thành 12 ô thí nghiệm. Khoảng cách giữa các công thức thí nghiệm là 1 m. Mỗi ô bố trí gieo 100 cây (tổng dung lượng thí nghiệm là 1.200 cây), dung lượng mẫu quan sát định kỳ là 30 cây/ô (90 cây/công thức).
- Vật liệu và kỹ thuật vườn ươm:
- Quy cách bầu và hỗn hợp ruột bầu: Sử dụng túi bầu polyetylen kích thước 8 x 12 cm. Hỗn hợp ruột bầu gồm 85% đất thịt tầng A đã qua sàng loại bỏ tạp chất (kích thước mắt sàng 0,5 cm) + 5% phân supe lân + 10% vỏ trấu (% tính theo thể tích). Bầu được đóng và xếp thành luống rộng 25 bầu, dài khoảng 155 bầu, có lưới quây kín xung quanh.
- Xử lý hạt giống: Áp dụng phương pháp ngâm hạt trong nước nóng ở nhiệt độ 70 - 80°C trong 24 giờ, rửa sạch bằng nước lạnh, ủ tiếp 3 - 4 ngày rồi gieo; hoặc phương pháp xử lý nhiệt bằng cách đốt rơm rạ trên lớp đất mặt rồi ủ tro nóng 2 - 3 giờ. Hạt được gieo đồng loạt vào ngày 22/01/2014 (1 hạt/bầu, tỉa định chồi chỉ giữ lại 1 cây tốt nhất/bầu).
- Chế độ chăm sóc và phòng trừ dịch hại: Làm cỏ phá váng định kỳ 15 ngày/lần, tưới dung dịch phân NPK pha loãng 1%, hoặc sulphát đạm và supe lân 0,1% - 0,2% (liều lượng 2,5 lít/m²). Phòng trừ nấm bệnh bằng dung dịch Boocđo nồng độ 1% (liều lượng 1 lít/4m², định kỳ 2 tuần/lần) hoặc COC 85 (25 g/bình 8 lít); phòng trừ côn trùng và sâu ăn lá bằng Bassa 50ND (nồng độ 1/400 - 1/600) hoặc Methyl parathion 0,1%.
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:
- Thu thập số liệu: Đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$, thước dây độ chính xác ±0,1 cm) qua 4 kỳ đo định kỳ 20 ngày/lần vào các ngày 20/03/2014, 10/04/2014, 30/04/2014 và 20/05/2014. Đo đường kính gốc ($D_{00}$, thước kẹp Panme độ chính xác ±0,02 mm) ở lần đo cuối sau khi đảo bầu (20/05/2014). Điều tra tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn vào ngày 28/05/2014 (tiêu chuẩn xuất vườn: cây thẳng, không sâu bệnh, $H_{vn} \ge 30\text{ cm}$, $D_{00} \ge 3,6\text{ mm}$).
- Phương pháp thống kê sinh học: Tính toán trị số trung bình gia quyền ($\bar{X}$), sai tiêu chuẩn ($S$), hệ số biến động ($S%$), lượng tăng trưởng bình quân tháng ($\Delta H_{vn}, \Delta D_{00}$), và thực hiện phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA) để so sánh $F_{\text{tính}}$ với $F_{0,05}$ theo bậc tự do $df_1 = a - 1$ và $df_2 = a(b - 1)$ thông qua phần mềm Microsoft Excel 2003.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài, phân tích tình trạng suy thoái tài nguyên rừng và nhu cầu chọn lọc giống cây trồng lâm nghiệp sinh trưởng nhanh. Xác định rõ mục đích, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa học thuật lẫn thực tiễn của việc khảo nghiệm 4 xuất xứ Xoan ta tại vườn ươm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Tổng quan hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan:
- Lý luận về cải thiện giống cây rừng: Trình bày chu trình cải thiện giống từ rừng tự nhiên/rừng trồng qua các giai đoạn khảo nghiệm loài, khảo nghiệm xuất xứ, chọn lọc cây trội, xây dựng rừng giống/vườn giống, lai tạo và nhân giống.
- Lịch sử khảo nghiệm giống: Trình bày các mốc khảo nghiệm xuất xứ trên thế giới (từ thí nghiệm của Vilmorin năm 1821 với Pinus silvestris, Cieslar năm 1887 với Larix decidua, các chương trình của IUFRO năm 1908 và 1938 với Pinus taeda, các khảo nghiệm Pinus caribaea, Tectona grandis, Eucalyptus) và tại Việt Nam (các nghiên cứu khảo nghiệm Lim xanh, Long não, Bạch đàn từ thập niên 1930; Thông ba lá, Keo lá tràm từ thập niên 1960; Phi lao, Tràm và Xoan chịu hạn từ thập niên 1970 đến 1995).
- Đặc tính sinh học của loài Xoan ta: Mô tả hình thái cây thân gỗ cao 20 - 25 m, tán thưa, lá kép lông chim lẻ 2 - 3 lần, quả hạch 4 - 5 ô; gỗ nhóm V có tỷ trọng 0,565, lực kéo ngang thớ 22 kg/cm², lực nén dọc thớ 339 kg/cm²; cây ưa sáng, mọc nhanh, chu kỳ kinh doanh gỗ lớn từ 8 - 10 năm.
- Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu: Khái quát điều kiện địa hình đồi bát úp (độ dốc 10 - 15°), khí hậu nhiệt đới gió mùa tại xã Quyết Thắng, TP. Thái Nguyên (lượng mưa trung bình 2.000 - 2.500 mm/năm, nhiệt độ trung bình 20 - 30°C) và chất lượng đất feralit phát triển trên phiến thạch sét (Fs) với độ pH tầng đất 1 - 10 cm đạt 1,7 theo phân tích thổ nhưỡng.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chi tiết hóa phương pháp bố trí thực nghiệm theo mô hình khối cột - hàng (Row-Column Design) gồm 4 công thức x 3 lần lặp lại. Mô tả toàn bộ quy trình phối trộn hỗn hợp ruột bầu, kỹ thuật xử lý hạt nước nóng và đốt tro rơm rạ, lịch trình tưới ẩm, bón phân NPK, phun phòng trừ nấm bệnh và côn trùng. Trình bày biểu mẫu thu thập dữ liệu ngoại nghiệp và các công thức toán thống kê nội nghiệp phục vụ phân tích phương sai ANOVA một nhân tố.
Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả
Phân tích chi tiết dữ liệu thực nghiệm qua các nội dung:
- Quá trình nảy mầm và tỷ lệ hình thành cây: Tỷ lệ hình thành cây của 4 xuất xứ đạt mức cao từ 88,34% đến 93,67%.
- Động thái sinh trưởng chiều cao và đường kính: Chiều cao vút ngọn bình quân tăng dần qua 4 lần đo; xuất xứ Bắc Kạn luôn duy trì mức sinh trưởng cao nhất qua tất cả các chu kỳ đo. Đường kính gốc ở 3 tháng tuổi dao động từ 4,01 mm đến 4,23 mm.
- Phân tích phương sai ANOVA: Kết quả kiểm định $F$ cho thấy giá trị $F_{\text{tính}} = 0,00117$ nhỏ hơn nhiều so với giá trị tra bảng $F_{0,05} = 5,14$, khẳng định sự sai khác về chiều cao giữa các xuất xứ trong giai đoạn vườn ươm 3 tháng tuổi chưa có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 95%.
- Lượng tăng trưởng bình quân tháng: Xuất xứ Bắc Kạn dẫn đầu với $\Delta H_{vn} = 14,05\text{ cm/tháng}$ và $\Delta D_{00} = 1,41\text{ mm/tháng}$.
- Đánh giá sâu bệnh hại: Xuất hiện rải rác dế mèn nâu cắn (3 cá thể khi cây cao 5 cm) và sâu xanh ăn lá (5 cá thể khi cây cao 10 cm); việc phòng trừ bằng Boocđo 1% giúp vườn ươm hầu như không mắc bệnh nấm.
- Chất lượng cây con, tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn: Tỷ lệ cây đạt loại tốt dao động từ 51,45% đến 57,32%; tỷ lệ sống đạt từ 88,30% đến 95,02%; tỷ lệ xuất vườn đạt từ 77% đến 87%.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Tổng hợp đánh giá sơ bộ về ưu thế sinh trưởng của các xuất xứ Xoan ta, xác định Bắc Kạn và Thanh Hóa là hai nguồn giống triển vọng nhất, đồng thời đề xuất tiếp tục theo dõi khảo nghiệm trên quy mô rừng trồng thực địa.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã thu thập và phân tích đầy đủ các chỉ tiêu định lượng lâm sinh của 4 xuất xứ Xoan ta trong suốt giai đoạn vườn ươm (3 tháng sau gieo):
| Chỉ tiêu đánh giá |
Công thức I (Ninh Thuận) |
Công thức II (Bình Thuận) |
Công thức III (Thanh Hóa) |
Công thức IV (Bắc Kạn) |
| Số hạt gieo (hạt) |
300 |
300 |
300 |
300 |
| Số cây hình thành (cây) |
265 |
271 |
275 |
281 |
| Tỷ lệ hình thành cây (%) |
88,34 |
90,30 |
91,67 |
93,67 |
| $H_{vn}$ lần 1 - ngày 20/03/2014 (cm) |
5,69 |
5,70 |
5,82 |
6,15 |
| $H_{vn}$ lần 2 - ngày 10/04/2014 (cm) |
13,12 |
14,11 |
15,06 |
17,13 |
| $H_{vn}$ lần 3 - ngày 30/04/2014 (cm) |
27,67 |
28,57 |
29,42 |
31,43 |
| $H_{vn}$ lần 4 - ngày 20/05/2014 (cm) |
38,69 |
39,78 |
40,16 |
42,15 |
| Đường kính gốc $D_{00}$ lần 4 (mm) |
4,01 |
4,14 |
4,17 |
4,23 |
| Tăng trưởng chiều cao $\Delta H_{vn}$ (cm/tháng) |
12,89 |
13,26 |
13,39 |
14,05 |
| Tăng trưởng đường kính $\Delta D_{00}$ (mm/tháng) |
1,34 |
1,38 |
1,39 |
1,41 |
| Tỷ lệ cây phẩm chất Tốt (%) |
51,45 |
53,06 |
55,14 |
57,32 |
| Tỷ lệ cây phẩm chất Trung bình (%) |
45,23 |
44,26 |
43,38 |
41,65 |
| Tỷ lệ cây phẩm chất Xấu (%) |
3,32 |
2,68 |
1,48 |
1,03 |
| Tỷ lệ cây sống trước xuất vườn (%) |
88,30 |
90,77 |
92,36 |
95,02 |
| Số cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn (cây) |
232 |
238 |
246 |
261 |
| Tỷ lệ xuất vườn (%) |
77,00 |
79,00 |
82,00 |
87,00 |
Kết quả phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA) đối với chỉ tiêu chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) ở lần đo thứ 4 được thể hiện qua các giá trị:
- Tổng bình phương các ly sai do công thức: $V_A = 0,31$; bậc tự do $df = 2$; phương sai $S_A^2 = 0,14$.
- Tổng bình phương các ly sai do yếu tố ngẫu nhiên: $V_E = 800,47$; bậc tự do $df = 6$; phương sai $S_E^2 = 133,41$.
- Tổng bình phương toàn thí nghiệm: $V_T = 800,79$; bậc tự do $df = 8$.
- Giá trị $F_{\text{tính}} = 0,00117 < F_{0,05} = 5,14$, cho thấy giữa các công thức thí nghiệm chưa có sự khác biệt rõ rệt mang ý nghĩa thống kê ở giai đoạn vườn ươm.
Kiến nghị và đề xuất của tác giả:
- Xác định hai xuất xứ có tiềm năng phát triển tốt nhất trong điều kiện miền núi phía Bắc là xuất xứ Bắc Kạn và xuất xứ Thanh Hóa; hai xuất xứ có biểu hiện sinh trưởng thấp hơn là Ninh Thuận và Bình Thuận.
- Đề nghị tiếp tục triển khai các giai đoạn khảo nghiệm tiếp theo trên quy mô rừng trồng thực địa trong thời gian dài hơn để lựa chọn chính xác xuất xứ phục vụ sản xuất đại trà.
Đóng góp của đề tài:
- Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm ban đầu có hệ thống về tỷ lệ nảy mầm, tỷ lệ sống, khả năng tăng trưởng và phẩm chất cây con Xoan ta từ 4 vùng địa lý khác nhau tại vườn ươm Thái Nguyên.
- Chuẩn bị được nguồn cây giống đạt chuẩn chất lượng phục vụ cho giai đoạn khảo nghiệm rừng trồng kế tiếp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số điểm hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu:
- Hạn chế:
- Nghiên cứu mới dừng lại ở giai đoạn vườn ươm trong khoảng thời gian 3 tháng tuổi (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2014), là bước đánh giá sớm nên chưa đủ cơ sở khẳng định tính thích ứng và năng suất thân cây lâu dài ngoài hiện trường rừng trồng.
- Tỷ lệ sống của cây con tại vườn ươm đạt mức cao (trên 88%) do điều kiện chăm sóc tối ưu (tưới nước, làm cỏ, che chắn, phòng bệnh định kỳ), chưa phản ánh được khả năng chống chịu điều kiện lập địa khắc nghiệt và thời tiết bất lợi khi đưa ra trồng thực địa.
- Kết quả kiểm định phương sai cho thấy sự phân hóa sinh trưởng giữa các xuất xứ chưa đạt mức sai khác có ý nghĩa thống kê ($F_{\text{tính}} < F_{0,05}$).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi, đo đếm và đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn, độ thon thân cây và khả năng kháng sâu bệnh của các lô xuất xứ này trong giai đoạn trồng rừng khảo nghiệm dài hạn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng và hoạt động nghiên cứu lâm sinh:
- Đối tượng hưởng lợi: Sinh viên, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Giống cây rừng; cán bộ kỹ thuật và kỹ sư lâm sinh tại các trung tâm giống và vườn ươm lâm nghiệp.
- Nội dung tham khảo giá trị:
- Quy trình kỹ thuật gieo ươm cây Xoan ta: phương pháp xử lý hạt giống bằng nước nóng 70 - 80°C và kỹ thuật đốt tro rơm rạ; tỷ lệ phối trộn hỗn hợp ruột bầu (85% đất thịt + 5% lân + 10% trấu).
- Phương pháp bố trí thí nghiệm vườn ươm theo mô hình khối hàng - cột (Row-Column Design) và phương pháp ứng dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý thống kê ANOVA một nhân tố trong nghiên cứu khảo nghiệm giống lâm nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Nghiên cứu khảo nghiệm bao nhiêu xuất xứ Xoan ta và bố trí theo sơ đồ thực nghiệm nào?
Nghiên cứu khảo nghiệm 4 xuất xứ Xoan ta gồm Ninh Thuận (CT I), Bình Thuận (CT II), Thanh Hóa (CT III) và Bắc Kạn (CT IV). Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn thiện ngẫu nhiên dạng hàng - cột (Row-Column Design) gồm 4 công thức và 3 lần lặp lại (tổng cộng 12 ô thí nghiệm, mỗi ô 100 cây, dung lượng mẫu điều tra là 30 cây/ô).
2. Tỷ lệ hình thành cây sau khi gieo của các xuất xứ đạt bao nhiêu?
Sau thời gian gieo từ ngày 22/01/2014 đến khi kết thúc nảy mầm (20/02/2014), tỷ lệ hình thành cây từ 300 hạt gieo của từng xuất xứ lần lượt là: Bắc Kạn đạt 93,67% (281 cây), Thanh Hóa đạt 91,67% (275 cây), Bình Thuận đạt 90,30% (271 cây) và Ninh Thuận đạt 88,34% (265 cây).
3. Kết quả phân tích phương sai (ANOVA) đối với chỉ tiêu chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) cho thấy điều gì?
Tại lần đo thứ tư (ngày 20/05/2014), kết quả phân tích phương sai ANOVA một nhân tố cho thấy giá trị $F_{\text{tính}} = 0,00117$, nhỏ hơn nhiều so với giá trị lý thuyết $F_{0,05} = 5,14$. Điều này chứng minh rằng ở giai đoạn 3 tháng tuổi tại vườn ươm, sự sai khác về sinh trưởng chiều cao giữa 4 xuất xứ Xoan ta chưa có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất tin cậy 95%.
4. Thành phần ruột bầu và tiêu chuẩn cây con xuất vườn được xác định như thế nào?
Hỗn hợp ruột bầu sử dụng gồm 85% đất thịt tầng A đã qua sàng loại bỏ tạp chất + 5% phân supe lân + 10% vỏ trấu (% tính theo thể tích) đóng trong túi bầu PE kích thước 8 x 12 cm. Tiêu chuẩn cây con xuất vườn quy định cây phải thẳng, cân đối, không sâu bệnh, chiều cao vút ngọn $H_{vn} \ge 30\text{ cm}$ và đường kính cổ rễ $D_{00} \ge 3,6\text{ mm}$.
5. Xuất xứ nào đạt kết quả sinh trưởng và tỷ lệ xuất vườn cao nhất?
Xuất xứ Bắc Kạn (Công thức IV) đạt kết quả cao nhất ở hầu hết các chỉ tiêu: chiều cao vút ngọn trung bình lần đo cuối đạt 42,15 cm; đường kính gốc đạt 4,23 mm; lượng tăng trưởng bình quân đạt 14,05 cm/tháng về chiều cao và 1,41 mm/tháng về đường kính; tỷ lệ cây phẩm chất tốt đạt 57,32%; tỷ lệ sống đạt 95,02% và tỷ lệ xuất vườn đạt 87% (261/300 cây).
Kết luận
Khóa luận đã hoàn thành việc đánh giá khả năng sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vườn của 4 xuất xứ Xoan ta (Melia azedazach L.) trong giai đoạn vườn ươm tại Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Vùng núi phía Bắc. Dữ liệu thực nghiệm xác định xuất xứ Bắc Kạn và Thanh Hóa là hai nguồn giống có khả năng sinh trưởng và tỷ lệ xuất vườn vượt trội, thích hợp cho các giai đoạn nhân giống tiếp theo. Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu lâm sinh ban đầu và là tiền đề quan trọng để triển khai các bước khảo nghiệm trên quy mô rừng trồng thực địa.