Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Giới thiệu chung về cây mè 1. Nguồn gốc và phân bố Mé là loại cây có dầu được trồng lâu đời (khoảng 2000 năm trước công nguyên). Sau đó được đưa vào vùng tiêu Á (Babylon) và được phát triển về phía tây vào châu Âu và phía nam vào Châu Á dần dần được phân bó đến An Độ và một số nước Nam A, Trung Quốc.
An Độ được xem như là trung tâm phân bồ thứ hai của cây mè. Hiện nay, mè được gieo trồng rất phô biến ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và thông qua việc chọn tạo giống có thé trồng thích hợp ở một số nước thuộc vùng ôn doi. Mặc dù cây mè có thé trồng từ 40° vĩ độ Bắc đến 40° vĩ độ Nam nhưng ngày nay mè được trồng chủ yếu ở vùng nhiệt đới (IPGRI, 2007). Vùng phân bố chính của cây mè ở giữa 25° vĩ độ Bắc và 25° vĩ độ Nam.
Ở một số nước như Trung Quốc, Nga và Mỹ, mè có thé trồng ở 40° vĩ độ Bắc tới 30° vĩ độ Nam 6 Uc và 35° vĩ độ Bắc ở Nam Mỹ. Mé trồng phổ biến ở độ cao 1.250 m so với mực nước bién, nhưng có vùng trồng được ở độ cao 1. Nếu trồng mè ở những độ cao càng cao so với mặt nước biển thì cây nhỏ hơn, sinh trưởng nhanh và ít phân cành, chỉ có một hoa trên nách lá và năng suất rất thấp. Phân loại về giống mè Mè có tên khoa học là Sesamum indicum L., thuộc bộ Tubiflorae, họ Cây Pedaliaceae bao gồm 16 chi, chi Sesamum có khoảng 37 loài, nhưng chỉ có Sesamum indicum là loài duy nhất được sử dụng trong trồng trọt.
Theo Trần Thị Kim Ba (2007), phân loại mè phụ thuộc vào một số đặc tính như thời gian sinh trưởng (trên hoặc dưới 100 ngày). Cách phân loại này rất quan trọng khi chọn giống đề luân canh với các cây trồng khác. Số khía trên trái: phân loại các giống mè có bốn khía, sáu khía, tám khía, phân loại này dùng dé chọn kích cỡ hat nhỏ hay to. Màu hạt: đây là cách phân loại phô biến nhất.
Mé đen có phẩm chat tốt và hàm lượng dầu thấp hơn mè trắng, mè đen có giá trị xuất khâu cao hơn mè trắng. Phân loại mè một vỏ với mè hai vỏ, vì mè một vỏ cho Dầu cao hơn mè hai vỏ. Ngoài các cách phân loại trên, còn phân loại mè theo thời vụ trồng, số hoa ở nách lá, sự phân cành trên thân. Đặc tính thụ phấn của cây mè Mé là loài cây trồng có hoa lưỡng tính và sinh sản theo hình thức tự thụ phan (Mukta and Neeta, 2017) và quan thé thường tôn tại ở dang tập hợp các cá thé đồng hợp tử (Furat and Uzun, 2010).
Mức độ giao phan chéo biến động từ 4,02 - 5,10% tùy thuộc vào giống và vị trí của hoa ở trên cây (Pathirana, 1994). Các hoa ở vị trí thấp có mức độ giao phan chéo khoảng 1,03 - 1,31%, các hoa ở giữa cây có tỷ lệ giao phan chéo khoảng 1,51 - 2,08%, các hoa ra muộn ở ngọn cây có tỷ lệ giao phan ngoài cao nhất là 2,27 -2,49% (dẫn theo Stein và cs, 2017). Tại Sudan, tỷ lệ giao phan chéo trung bình ở cây mè biến động từ 3,1 - 6,7%. Còn ở Ấn Độ, tỷ lệ giao phan chéo trung bình khoảng 5%, mặc dù tỷ lệ này có thé biến động từ 1% - 65% (Singh và cs, 2017).
TẦm quan trọng của cây mè 1. Hạt mè Được sử dụng rất phố biến dé chế biến nhiều dạng thức ăn (kẹo mè, ché mé. Trong dân gian, còn dùng mè dé nấu cháo (nếp với mè) cho người mẹ có con bú ăn rat tot. Dau mé Dau mè rat tốt khác với các loại dau khác là không bị oxy hóa nên không chuyên thành mùi khó chịu.
Vì trong mè có chứa chất sesamol ngăn cản quá trình oxy-hóa. Trong công nghệ, dầu mè sử dụng đề bôi trơn máy móc cao cấp: máy bay, máy dùng trong khoa học kỹ thuật, dau dùng dé pha sơn, pha vecni rat tốt vì có màu láng bóng. Trong y học, dùng dé làm thuốc viên con nhộng. Dầu mè còn dùng trong mỹ phẩm, ở An Độ, người ta còn dùng dầu mè dé bôi vào tóc cho bóng mượt.
Giá trị dinh dưỡng Mè có giá trị đinh dưỡng cao, trong hạt mè có chứa: 45 — 55% Dau, 19 — 20% protein, 8 — 11% đường, 5% nước, 4 — 6% chất tro. So sánh hàm lượng acid amin có trong bột mè và trong thịt, ta thấy các acid amin có trong bột mè gần tương đương với các acid amin có trong thịt. Thành phan axit hữu co chủ yếu của dầu mè là 2 loại acid béo chưa no: - Acid oleic (Cig H34 O2): 45,3 — 49,4%. Bang phân tích thành phần dinh dưỡng có trong bột mè và trong thịt Acid amin Bot mé % Thit % Lysin 2,8 10,0 Triptophan 1,8 1,4 Methionine 3,2 a2 Phenilatanine 8,0 5,0 Leucine ‘Tess 8,0 Isoleucine 4.
Tinh hình sản xuất và nghiên cứu mè trên thế giới 1. Tình hình sản xuất mè trên thế giới Trước thế chiến thứ hai, diện tích trồng mè trên thế giới đạt 5 triệu ha năm 1939, sản lượng 1,5 tan. Trong đó An Độ là quốc gia có quy mô lớn nhất với điện tích 2,5 triệu ha, kế đó là Trung Quốc 1,2 triệu ha và Myanma. Hiện nay diện tích mè toàn thế giới đã tăng lên, có mặt ở hầu khắp các châu lục, nhưng với tốc độ còn chậm, diện tích mè trên thế giới năm 2021 khoảng 12,50 triệu ha, năng suất hạt trung bình 508,1 kg/ha, sản lượng 6,35 triệu tan.
Diện tích, năng suất, sản lượng mè trên thé giới từ năm 2017-2021 Năm Chi tiêu Thếgiới ChâuÁ ChâuMỹ Châu Phi 2017 Diện tích (triệu ha) 11,11 3,79 0,30 7,02 Năng suất (kg/ha) 514,0 579,6 641,8 472,9 Sản lượng (triệu tân) ly | 2,19 0,19 3,31 2018 Diện tích (triệu ha) 11,73 3,74 0,29 7,70 Nang suat (kg/ha) 502,6 591,0 673,6 453,2 Sản lượng (triệu tan) 5,89 3 21 0,19 3,49 2019 Diện tích (triệu ha) 12,97 3,72 0,43 8,81 Năng suất (kg/ha) 507,3 602,3 605,0 462.4 469,0 Sản lượng (triệu tấn) 6,35 2,34 0,23 oi (Nguôn: FAOSTAT, 2022) Theo thống kê của FAO năm 2022 trên thé giới có ba khu vực trồng mè chính là Châu Phi, Châu A, Châu Mỹ (Bảng 1. Trong đó, châu Phi có diện tích mè lớn nhất 8,04 triệu ha, năng suất hạt 469 kg/ha, sản lượng 3,77 triệu tấn; kế đến là châu Á có diện tích 4,06 triệu ha, năng suất hạt 577,4 kg/ha, sản lượng 2,34 triệu tấn; diện tích mè ở châu Mỹ thấp nhất chỉ có 0,39 triệu ha, nhưng năng suất trung bình đạt cao 588,4 kg/ha, sản lượng 0,23 triệu tan (FAOSTAT, 2022). Diện tích trồng mè trên thế giới đang được gia tăng, trong giai đoạn từ năm 2017 — 2021, từ 11,11 triệu ha lên 12,5 triệu ha năm 2021. Mặc dù diện tích mè trên thế giới đang được mở rộng nhưng sản lượng mè ngày một giảm.
Từ năm 2017 năng suất mè của thé giới đạt 514 kg/ha, đến năm 2021 giảm còn 508,1 kg/ha; năm 2018 năng suất mè trên thế giới chỉ đạt 502,6 kg/ha. Nhu cầu của thế giới đối với sản phâm cây mè ngày càng gia tăng, thị trường mè toàn cầu dự kiến tăng trưởng với tốc độ hàng năm là 4,2% trong giai đoạn từ năm 2018 -2024. Sản lượng mè chủ yếu trên thế giới năm 2017 ở một số quốc gia như: An Độ 890 ngàn tấn và Tanzania 420 ngàn tan. Trung Quốc là quốc gia có năng suất mè cao nhất 1,4 — 1,6 tan/ha (Gohil, 2018).
Ở châu Phi, Sudan là nước sản xuất mè lớn nhất với diện tích gieo trồng năm 2019 là 1,21 triệu ha; mặc dù Sudan có điện tích gieo trồng lớn nhưng năng suất mè bình quân rất thấp, chi đạt 285,1 kg/ha, sản lượng xấp xi 350 ngàn tan. Nigeria là quốc gia xuất khẩu hạt mè lớn nhất thé giới sang thị trường Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Việt Nam và Hàn Quốc. Hàm lượng dầu mè của Nigeria kha cao (44 — 46%). Nhu cầu thực phẩm hữu cơ ngày càng tăng nên sẽ là cơ hội cho Nigeria phát triển sản xuất cây mè (Gohil, 2018).
Các nghiên cứu về chọn tạo cây mè trên thế giới Đánh giá và chọn lọc hợp lý các dòng cải tiến là bước đầu tiên trong quá trình chọn giống, công tác nay phụ thuộc vào su hiểu biết đa dạng và hệ số di truyền. Chọn lọc là kỹ thuật cơ ban và cô điền trong chọn giống cây trồng đề chọn ra các cá thé/dong mong muốn từ quan thé phân ly. Các dong này sau đó được đánh giá so sánh với các giống thương mại dựa trên năng suất và các tính trạng khác để chọn được các dòng theo đúng mục tiêu. Các nghiên cứu về cây mè trên thế giới tập trung chủ yếu vào khâu chọn tạo giống.
Giống mè trồng là loại (Seamun indicum L.) gồm 3 nhóm giống chính: i) Mè đen; ii) Mè vàng, mè trắng: iii) Mè đỏ/nâu, trong đó mè đen thường cho chất lượng dâu và giá trị xuât khâu cao. Các thông tin về mối quan hệ giữa năng suất và các yếu tô cấu thành năng suất là rat quan trọng dé chương trình chọn giống thành công. Chọn lọc cá thê với các kiểu cây thích hợp là cần thiết nhằm tăng năng suất hạt và phát triển các giống mè mới. Năng suất hạt được biết đến là tính trạng đa gen, do đó cần phải nhận biết được các gen kiêm soát các yếu tô cầu thành năng suất dé chọn được các giống mè có năng suất cao.
Các tính trạng như số trai/cay, số cảnh, năng suất sinh vật học, chỉ số thu hoạch có tương quan thuận với năng suất mè (Sarwar and Hussain, 2010). Nhiều giống và dòng mè được phân loại dựa trên các đặc điểm hình thái và di truyền như đặc điểm của hoa, số hoa hoặc trái trên nách lá, số lá noãn trên trái (Sarwar va cs, 2005). Phan loại này góp phan cung cấp thông tin cho việc phát triển các giống trái năng suât cao. Dé tạo ra dạng hình giống mè lý tưởng, Baydar (2005) đã sử dụng phương pháp chon lọc từ quan thé các hệ con lai, với các kiểu gen có tinh trạng tương phản.
Ở quan thé F, ông đã phân lập thành 8 nhóm, dựa trên các tính trạng chính, số mui/trai, số trái/nách lá, chiều dài lóng và tập tính phân cành. Kết quả có 2 dạng hình: trái 22 ngăn (bicar pels), đơn trái, phân nhánh và trái 2 ngăn, 3 trái, phân nhánh được xem như được xem như những dạng hình lý tưởng cho năng suất cao nhất. Dạng hình năng suất thấp thuộc về trái 4 ngăn (quadricar pels), 3 trái không phân nhánh.