mở đầu thời kỳ dùng lạc đầu tiên trên quy mô lớn. Công nghiệp ép dầu đƣợc xây dựng với tốc độ nhanh ở các nƣớc Châu Âu và trên toàn thế giới [5]. * Trong những năm gần đây, ngƣời ta chú ý nhiều đến prôtêin trong hạt lạc, nhân loại đặt nhiều hy vọng vào các loại cây bộ đậu để giải quyết nạn đói prôtêin trƣớc mắt và trong tƣơng lai.Trong các cây bộ đậu của thế giới, lạc có diện tích và sản lƣợng đứng thứ 2 .Nhƣ vậy, hƣớng sản suất lạc trên thế giới trong những năm tới tốc độ phát triển sẽ chậm hơn so với những năm trƣớc. Diện tích trồng lạc sẽ có thay đổi nhiều do các chính sách quản lý, thƣơng mại.
Năng suất là chỉ tiêu để phản ánh tiến bộ nghiên cứu về cây lạc và cây , và chính sách là yếu tố quan trọng quyết định tƣơng lai của cây trồng này. Những yếu tố quan trọng quyết định năng suất cao là: - Cải tiến kỹ thuật canh tác và mở rộng diện tích ở các nƣớc nhiệt đới và Á nhiệt đới, đặc biệt các nƣớc đang phát triển. - Chú trọng đến công tác chọn tạo giống mới có năng suất cao hơn, phẩm chất tốt, giống phải phù hợp với từng điều kiện sinh thái, hình thành vùng sản suất hàng hoá, cơ giới hoá sản suất. Thuốc trừ sâu, trừ cỏ, bệnh tốt hơn.
- Chế biến, đi sâu vào lĩnh vực chế biến dầu thực vật, hỗ trợ và giúp đỡ các nƣớc đang phát triển về xuất khẩu và nhập khẩu lạc nhân.Trong tƣơng lai, sự tác động của công nghệ sinh học, di truyền học phân tử đối với cây trồng có thể mở ra 1 tiềm năng mới trong tƣơng lai phát triển cây lạc, cây ccó thể làm tăng năng suất cây lạc, cây lên nhiều thông qua các giống năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt. Công nghệ sinh học cũng là yếu tố quan trọng để cải tiến chất lƣợng cây lạc. Những tiến bộ kỹ thuật này cũng có thể cải tiến hiệu quả sản suất và tiêu dùng sản phẩm lạc [6]. Ở Việt Nam Lạc là một trong những cây trồng chính ở nƣớc ta, đƣợc ngƣời nông dân trồng từ lâu đời và có thể trồng trên nhiều loại hình sinh thái khác nhau.
Diện tích chiếm khoảng 28% tổng diện tích cây công nghiệp hàng năm (đậu tƣơng, thuốc lá, đay, cói). Tuy nhiên có 6 vùng sản xuất lạc chính là vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc, vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, vùng duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ. Trong những năm trở lại đây việc thực hiện các chính sách chuyển đổi cơ chế quản lý trong sản xuất nông nghiệp đã giải quyết đƣợc vấn đề lƣơng thực. Vì vậy ngƣời dân có điều kiện chủ động để chuyển dần một phần diện tích trồng lúa sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế.
Trong đó lạc có vị trí quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa, cũng góp phần cải tạo và sử dụng tài nguyên đất đai, nhằm khai thác lợi thế của vùng khí hậu nhiệt đới. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lạc ở Việt Nam đƣợc thể hiện ở bảng 1. Diện tích, năng suất và sản lƣợng ở Việt Nam từ năm 2004 – 2016 Năm Diện tích Năng suất Sản lƣợng ngh n ha tạ ha ngh n tấn 2004 263,70 17,80 469,00 2005 269,60 18,10 489,30 2006 246,70 18,70 462,50 2007 254,50 20,00 510,00 2008 255,30 20,80 530,20 2009 245,00 20,90 510,90 2010 231,40 21,10 487,20 2011 223,80 20,90 468,70 2012 220,50 21,30 470,60 2013 216,40 22,70 491,90 2014 208,70 21,70 453,30 2015 200,32 22,60 451,80 2016 191,30 23,10 441,40 (Nguồn: Tổng cục thống kê, 2017) 11 - Về diện tích: Cây lạc đƣợc trồng trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp của Việt Nam. Diện tích trồng lạc chiếm khoảng 40% tổng diện tích gieo trồng các cây công nghiệp ngắn ngày và có xu hƣớng giảm trong giai đoạn 2005 - 2016, cụ thể là 269,60 nghìn ha năm 2005 giảm còn 191,30 nghìn ha năm 2016.
- Về năng suất: Tuy chƣa đạt năng suất cao nhƣ một số nƣớc khác trên thế giới, nhƣng năng suất lạc của nƣớc ta cao hơn năng suất trung bình của toàn thế giới. Trong những năm gần đây, do thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm khá ổn định, các tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lạc nhƣ giống mới, kỹ thuật thâm canh tiên tiến đƣợc áp dụng rộng rãi, điều kiện phục vụ sản xuất nhƣ hệ thống tƣới tiêu đƣợc cải thiện, đầu tƣ thâm canh trong sản xuất đƣợc chú trọng, nên năng suất lạc của nƣớc ta không ngừng tăng lên. Cụ thể là năm 2004 năng suất lạc chỉ có 17,8 tạ/ha nhƣng đến 2016 thì năng suất lạc đã lên đến 23,10 tạ/ha. Bên cạnh đó các yếu tố hạn chế chính đối với sản xuất lạc ở nƣớc ta đã đƣợc nghiên cứu, nên đã đáp ứng nhu cầu của nông dân và bƣớc đầu đã đem lại hiệu quả đáng khích lệ.
- Về sản lƣợng: Mặc dù, diện tích trồng có xu hƣớng giảm, nhƣng năng suất lạc liên tục tăng trong những năm gần đây, nên sản lƣợng lạc của nƣớc ta không ngừng tăng lên. Theo bảng số liệu 1.3, từ năm 2004 - 2008 do năng suất liên tục tăng, diện tích trồng lạc giảm không đáng kể nên sản lƣợng lạc của cả nƣớc năm 2008 đạt 530,20 nghìn tấn tăng 61,20 nghìn tấn so với năm 2004. Tuy vậy năm 2015 và 2016, do diện tích trồng lạc giảm mạnh nên sản lƣợng lạc của cả nƣớc bị giảm đi [5]. Tại Quảng Nam - Những năm gần đây diện tích trồng lạc tăng liên tục nhờ vào việc triển khai dự án xây dựng các cánh đồng chuyên canh quy mô lớn.
Thị xã Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) đã quy hoạch 24 cánh đồng với tổng diện tích 689 ha của vùng Gò Nổi vào phƣơng án xây dựng các cánh đồng chuyên canh quy mô lớn. Phƣơng án sẽ đƣợc triển khai thực hiện trong 02 năm (2017 - 2019). Xây dựng các cánh đồng chuyên canh quy mô lớn hay còn gọi là “cánh đồng lớn” trên cây 12 màu của Điện Bàn là một phƣơng án tổ chức sản xuất tập trung, có kế hoạch cụ thể nhằm hoàn thiện đồng bộ cơ sở hạ tầng, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, liên doanh liên kết tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, góp phần nâng cao năng suất, chất lƣợng và giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích. - Nhƣ vậy, với quy mô cánh đồng 30 ha theo phƣơng án đã xây dựng của Điện Bàn sẽ có 10 ha lạc, 10 ha ngô, 5 ha ớt, và 5 ha cây trồng khác.
Các hợp tác xã nông nghiệp, các cơ sở thu mua chế biến nông sản sẽ là những tập thể chủ động liên kết phát triển hình thức dịch vụ hỗ trợ sản xuất, cung ứng giống, thu mua và tiêu thụ sản phẩm [11]. Giới thiệu chung về bệnh héo rũ hại cây trồng - Bệnh héo rũ do các tác nhân vi sinh vật nhƣ vi khuẩn, nấm gây ra là một trong nhóm bệnh hại phổ biến nhất trong sản xuất nông nghiệp. - Bệnh héo rũ hại cây trồng thƣờng xuyên suốt hiện và gây hại ngoài đồng ruộng, mức độ phát sinh, diễn biến và tác hại của từng loại bệnh thƣờng biến động nhiều. Có nhiều bệnh héo rũ đã gây hại khá nghiêm trọng đối với nhiều loại cây trồng có ý nghĩa kinh tế nhƣ bệnh héo xanh vi khuẩn, bệnh héo vàng do nấm Fusarium, bệnh héo rũ tráng mốc, bệnh héo rũ (lỡ cổ rễ),… Trong đó, loại hình triệu chứng hại bó mạch dẫn do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum [(còn gọi là Ralstonia solanacearum (Smith)], do loài nấm Fusarium oxysporum là phổ biến và gây tác hại lớn nhất trên nhiều loại cây trồng nhƣ cà chua, khoai tây, thuốc lá, lạc, cà, dƣa chuột, bầu bí,.cũng thƣờng xuyên xuất hiện, gây hại ngoài đồng ruộng do loài vi khuẩn Erwinia sp.
- Nguyên nhân gây bệnh héo rũ cây trồng cạn ở các vùng sinh thái nông nghiệp phần lớn do nhóm vi sinh vật tồn tại trong đất gây ra. Bản chất của quá trình gây triệu chứng héo rũ có thể giải thích tóm tắt ở các tác động chính của vi sinh vật nhƣ sau: + Các tác nhân gây bệnh xâm nhiễm vào hệ thống bó mạch dẫn của rễ, thân, cành, lá. Chúng đã phá hủy, vít tắc bó mạch dẫn, ảnh hƣởng và cản trở đến quá trình vận chuyển nƣớc và các chất dinh dƣỡng. Bó mạch dẫn hóa màu nâu, thâm đen và dẫn đến cây héo rũ nhanh chóng, cây héo xanh và chết.
13 + Một số loài vi sinh vật trong quá trình kí sinh gây bệnh có thể phá hoại cơ giới, sinh lý và lý học của cây, phá hoại lớp vỏ bọc ngoài làm cho cây bị bốc hơi nƣớc mạnh, vì vậy việc cung cấp nƣớc sẽ không kịp, trong khi đó trọng lƣợng khô vẫn cứ tăng lên, dẫn đến hiện tƣợng cây co rú, nhăn nheo và héo rũ. + Các vi sinh vật xâm nhập gây hại hệ thống rễ, mạch dẫn đã phá hủy chế độ nƣớc của cây bằng vít tắc bó mạch dẫn, cây không có khả năng hút nƣớc và vận chuyển nƣớc. Bó mạch dẫn bị tắc có thể do một số loài nấm thƣờng phát triển nhanh trong bó mạch hoặc do các chất nhờn và các tế bào vi khuẩn ứ đọng lại. Kết quả của quá trình xâm nhiễm đó thể hiện là cây héo.
+ Trong quá trình kí sinh, xâm nhiễm gây hại trên cây trồng, các vi sinh vật thƣờng tiết ra các độc tố. Các độc tố đó có tác dụng phá hủy chế độ hút nƣớc và vận chuyển nƣớc của cây, làm giảm khả năng giữ nƣớc của tế bào, phá hủy khả năng bán thấm của màng nguyên sinh chất, đầu độc gây chết mô tế bào cây kí chủ gây hiện tƣợng cây héo rũ, làm cho cây chết héo - Tùy theo loài cây kí chủ, giai đoạn sinh trƣởng, thành phần cơ giới đất, nguồn bệnh, chế độ phân bón, chăm sóc, chế độ luân canh và điều kiên ngoại cảnh mà các loại bệnh héo rũ có thể xuất hiện, gây hại ở những thời điểm khác nhau, tác hại cũng khác nhau [7]. Giới thiệu chung về nấm Trichoderma 1. Đặc điểm của nấm Trichoderma - Chủng nấm Trichoderma thuộc nhóm nấm bất toàn (Deuteromycetes hay Fungi Imperfecti), sinh sản vô tính bằng bào tử bụi, sắp xếp theo kiểu đính bào tử.
Chúng đƣợc tìm thấy khắp mọi nơi từ những vĩ độ cực Nam và cực Bắc. Hầu hết dòng Trichoderma đều hoại sinh, chúng phổ biến trong những khu rừng nhiệt đới ẩm hay cận nhiệt đới, ở rễ cây, trong đất hay trên xác sinh vật đã chết, xác bã hữu cơ hay ký sinh trên những loại nấm khác. Nấm Trichoderma phát triển nhanh ở 25 – 300 C có một số ít loài Trichoderma tăng trƣởng đƣợc ở 450C.