Đặt vấn đề Rau quả là cây trồng chứa nhiều chất dinh dưỡng (vitamin, muối tiêu, đường, bột tinh bột, protein, vải .) và là thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người. Đặc biệt khi lương thực, thực phẩm an toàn, nhu cầu về rau quả sẽ tăng lên, trở thành nhân tố tích cực cho công việc cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ cho con người. Hàng năm, ngành sản xuất rau quả không chỉ cung cấp sản phẩm cho thị trường trong nước, mà là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Dưa lê (Cucumis melo L.) thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao. Dưa lê có nguồn gốc từ Châu Phi, sau đó được trồng ở Ai Cập, Trung Quốc, Ấn Độ và ngày nay dưa lê trồng được ở nhiều nơi trên thế giới.
Quả dưa lê được sử dụng chủ yếu để ăn tươi, ép nước hoa quả. Giá trị dinh dưỡng của quả dưa lê phụ thuộc vào giống. Dưa lê được người tiêu dùng ưa chuộng bởi vị ngọt thanh, có tính hàn giúp giải nhiệt cơ thể trong màu hè nóng bức. Dưa lê chứa nhiều vitamin C và Potassium.
Trong quả dưa lê chứa nhiều Vitamin A,B,C, chất xơ, các khoáng chất như Magie, Natri và không có Cholestrol. VitaminC trong quả dưa lê không chỉ có chất chống oxy hóa mà cò giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch và ung thư. Bên cạnh đó, dưa lê còn có chứa β-carotene. Sự kết hợp giữa β-carotene và Vitamin C có thể giúp ngăn ngừa nhiều bệnh mãn tính.
Cây dưa lê là cây thân thảo hàng năm, phát triển tốt ở vùng có khí hậu cận nhiệt đới hoặc ấm áp, ôn đới. Ở Việt Nam hiện nay, dưa được trồng ở 1 số tỉnh như: Hải Dương, Hà Nội, Bắc Ninh,. Mặc dù nhu cầu về tiêu dùng quả dưa lớn khá lớn song diện tích trồng dưa tăng chậm, chủ yếu diện tích trồng dưa còn nhỏ lẻ, manh mún với quy mô nhỏ. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do thiếu giống tốt cho các vùng trồng.
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều giống, hầu hết là các giống lai nhập 1 nội, nhu cầu của người tiêu dùng càng cao thì càng nhiều giống dưa mới được du nhập, người nông dân càng khó khăn hơn trong việc lựa chọn giống dưa tốt chất lượng cao… Hơn nữa, dưa lê rất khó tính nếu như canh tác ngoài đồng vào điều kiện thời tiết ít nắng không thuận lợi tạo điều kiện cho côn trùng sâu bệnh hại phát triển, cây không có các đặc tính kháng sâu bệnh sẽ rất dễ bị nhiễm bệnh- thường xảy ra ở vụ Hè- sẽ gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây trồng của người nông dân. Vì vậy để sinh trưởng, phát triển, cho năng suất và chất lượng cao cần cung cấp đầy đủ và cân đối dinh dưỡng. Căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng của cây dưa để tăng năng suất và chất lượng dưa thì việc xác định được dung dịch dinh dưỡng hay chế phẩm sinh học hợp lý là rất cần thiết. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của việc sử dụng một số chế phẩm sinh học đến quá trình sinh trưởng và phát triển của dưa lê trồng vụ xuân hè tại Gia Lâm – Hà Nội”.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Lựa chọn được chế phẩm sinh học thích hợp nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng, tăng đề kháng và năng suất của giống dưa lê Bạch Ngọc trồng trong nhà lưới.Yêu cầu - Biết cách thiết kế thí nghiệm phù hợp, thu thập và phân tích dữ liệu để trả lời các câu hỏi đặt ra của đề tài. - Theo dõi, đánh giá được các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển trong các công thức thí nghiệm - Đánh giá được năng suất của giống dưa lê Bạch Ngọc ở mỗi công thức. - Nhận biết được một số loại sâu bệnh hại phổ biến trên cây và phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại trên cây dưa lê Bạch Ngọc.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.Ý nghĩa khoa học của đề tài - Sinh viên được củng cố và hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học, vận dụng những kiến thức đực trang bị trên giảng đường vào thực tiễn sản xuất, có cơ hội chủ động xây dựng và thực hành trình sản xuất từ đó rút ra kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp và tập cho sinh viên có ý thức tự lập, chủ động trong nghiên cứu, tự chịu trách nhiệm trong lĩnh vực sản xuất sau này. - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung vào tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học về cây dưa lê. Ý nghĩa thực tiễn của để tài Đề tài giúp tìm ra được loại chế phẩm sinh học thích hợp nhất cho giống dưa lê Bạch Ngọc sinh trưởng tốt, tăng năng suất, tăng đề kháng, chất lượng dưa. Những kết quả thu được từ đề tài có thể được áp dụng khuyến cáo ngoài sản xuất giúp nông dân đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
3 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, phân loại và phân bố của dưa lê 2. Nguồn gốc của dưa lê Theo một số tài liệu, dưa có nguồn gốc từ Châu Phi và nơi nóng bức của một số thung lũng ở Tây Nam Á, đặc biệt là Iran và Ấn Độ, chúng dần bắt đầu xuất hiện ở Châu Âu vào cuối thời kì Tây La Mã. Dưa được biết là được trồng bời người Ai Cập cổ đại ít nhất 4000 năm.
Dưa được đưa từ Ấn Độ sang các nước ở Trung Quốc, Trung Đông, Trung Á và Châu Âu. Tên dưa đã được xuất hiện trong ngôn ngữ văn chương của dân tộc trên thế giới như: Ả Rập, tiếng Phạm, tiếng Tây Ban Nha,… Dưa lê là một trong những cây loại được thuần hóa sớm nhất ở thế giới và là một trong những loại cây đầu tiên được Christopher Columbus đưa đến Bắc Mỹ trên hành trình lần thứ hai của ông đến Tân Thế Giới vào năm 1494. Những người châu Âu đầu tiên định cư ở Tân thế giới dưa sớm từ những năm 1600. Một số lạc thổ dân châu Mỹ ở New Mexico, bao gồm Acoma, Cochti, Isleta, Navajo, Santo Domingo và San Felipe, duy trì truyền thống trồng các loại dưa độc đáo của riêng họ, có nguồn gốc từ Tây Ban Nha.
Các tổ chức như Native Seeds/SEACH đã và đang làm việc để thu thập và bảo quản các loại hạt này cũng như các loại truyền thống khác. Cây dưa lê xuất hiện phổ biến ở nước ta khoảng hơn chục năm trở lại đây. Cây dưa lê đã thích nghi tốt với khí hậu nước ta, cho kết quả tốt và dân ta tự để lại giống hay nhân giống được ra các giống dưa mới. Tuy nhiên, sau khi trồng một vài năm, mùi thơm, vị ngọt giảm, màu sắc không thần, quả, đề kháng của cây dưa lê Bạch Ngọc có xu hướng giảm.
Một trong những nguyên nhân là người trồng chưa tìm được công thức phân bón cũng như các chế phẩm sinh học hữu cơ đúng và phù hợp. Phân loại dưa Dưa lê tên khoa học là Cucumis melo L thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae). là một loại cây trồng nông nghiệp quan trọng có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm mang lại năng suất khá cao, được trồng phổ biến trên thế giới. Theo kết quả nghiên cứu trong chi Cucumis, nó thuộc về phân chi Melo có 2n = 24 nhiễm sắc thể.
Các loài khác nhau có sự biến đổi hình thái quả ở các đặc điểm như kích thước, hình dạng, kết cấu, hương vị, màu sắc và thành phần các chất dinh dưỡng. melo được coi là loài đa dạng nhất trong chi Cucumis (Whitaker and Davis, 2062; Jeffrey, 2080; Kirkbride, 2093). Các nghiên cứu được đánh giá gần đây nhất về sự đa dạng di truyền và sự thuần hóa của dưa đã đồng ý về cách cấu tạo các nhóm thực vật của 2 phân loại dưa: C. agrestis với 5 nhóm và C.
agrestis với 10 nhóm (Pitrat, 2008) hoặc 11 nhóm (Burger et al. Các nhóm mà di truyền phần lớn thống nhất về các đặc điểm kiểu hình của chúng chẳng hạn như là khả năng kháng bệnh, kết cấu vỏ quả, màu thịt quả và hình dáng quả. Phân loại dưa theo loại quả và các loài phụ Loài phụ Loại quả agrestis melo Không ngọt Acidulus Chate Conomon Chito Momordica Flexuosus Tibish Ngọt Makuwa Adana Chinensis Ameri Cantalupensis Chandalak Reticulatus Thơm Inodorus Dudaim ( Theo Burger et al., 2010) 5 Các nhóm di truyền phần lớn thống nhất về các đặc điểm kiểu hình của chúng chẳng hạn như là khả năng kháng bệnh, kết cấu vỏ quả, màu thịt quả và hình dáng quả. • Phân loại dưa theo Pangalo (1929), Grebenscikov (1953), Naudin (1959), Hammer et al.
melo được chia thảnh 7 giống: C. agrestis: là giống hoang dại, đơn tính cùng gốc ở châu Phi và các nước châu Á. Thân mỏng, quả không ăn được, rất nhỏ, vỏ quả mỏng, hạt nhỏ. cantalupensis: quả trung bình hoặc lớn, vỏ quả mịn hoặc vân lưới hoặc có vảy.
Quả thơm, ngọt, thịt quả mọng nước, cuống rụng khi chín. Cây có cả hoa đực và hoa lưỡng tính (Andromonecious), bầu nhụy có lông. Các giống Galia, Ananas, Charentais thuộc loại này. inodorus: là dưa vụ đông, quả lớn, không thơm, không chín tiếp sau khi thu hoạch (non- climacteric), bảo quản tốt.
Vỏ dày, nhẵn hoặc có nhiều vết sần. Gồm các loại dưa ngọt tráng miệng của châu Á và Tây Ban Nha như Honeydew, Casaba. Cây có cả hoa đực và hoa lưỡng tính (Andromonecious), bầu nhụy có lông. flexuosus: quả dạng dài, không ngọt, khi còn non ăn như dưa chuột.
Tìm thấy ở Trung Đông và châu Á. Là loại có hoa đơn tính cùng gốc.: là giống Viễn Đông, thịt quả trắng, mềm; vỏ quả mỏng, có thể ngâm muối hoặc ăn tươi, bao gồm cả loại có quả giòn ngọt ăn được cả vỏ. Cây có cả hoa đực và hoa lưỡng tính. chito và dudaim : được mô tả bởi Naudin, nhưng nhóm lại với nhau bởi Munger and Robinson.
Thứ chito là dạng hoang dại gốc châu Mỹ, nhỏ cỡ trái mận, quả thơm, có thể sử dụng để ngâm muối, cây có hoa đơn tính cùng gốc, bầu nhụy có lông. Thứ dudaim có gốc Tây Á (Ba Tư), cây có hoa đực và hoa lưỡng tính, quả nhỏ, thơm, có các sọc đỏ hoặc nâu, thường trồng làm cảnh trong vườn. momordica: gồm các mẫu giống góc Ấn Độ. Cây leo đơn tính cùng gốc, bầu nhụy có lông nhung, quả không ngọt, vỏ mỏng và nứt khi chín.
Giá trị dinh dưỡng của dưa lê Các loại rau nói chung và dưa nói riêng là loại thực phẩm cần thiết trong đời sống hằng ngày và không thể thay thế.