Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Lai giống và ưu thế lai 1. Lai giống Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho các đực giống và các giống thuộc hai quần thể khác nhau phối giống với nhau.
Hai quần thể này có thể lai hai giống, hai dòng hoặc hai loài khác nhau. Do vậy, đời con không còn là dòng, giống thuần mà là con lai giữa hai dòng, giống khởi đầu là bố mẹ của chúng. Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của quần thể gia súc. Lai giống có những ưu việt, vì con lai thường có ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định.
Lai giống là cho giao phối giữa những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác nhau. Lai khác dòng là cho giao phối giữa các động vật thuộc các dòng khác nhau trong cùng một giống. Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống hơn lai khác dòng, nhưng hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương tự nhau (Trần Kim Anh, 2000)[1]. Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, còn tần số kiểu gen dị hợp ở thế hệ sau tăng lên.
Lai tạo là biện pháp nhân giống nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm thông qua tận dụng ưu thế lai. Các phương pháp lai phổ biến - Lai cải tạo: Là phương pháp dùng một lợn cao sản, thường là giống nhập nội để cải tạo hẳn đặc điểm di truyền của giống địa phương được cải tạo gọi là giống bị cải tạo - Lai kinh tế: Là lai giữa hai cá thể, hai dòng khác giống, khác loài hoặc khác cá thể của hai dòng phân hóa về di truyền cũng như hai dòng cận huyết trong cùng một giống. Các con lai sinh ra không dùng để làm giống mà dùng làm thương phẩm. 5 - Lai luân chuyển: Là một bước phát triển của lai kinh tế và được hiểu như một hệ thống lai có sự tham gia của hai giống (dòng) trở lên.
Trong phép lai này luôn luôn thay đổi con đực giống nên có thường xuyên sản phẩm F1, tức là luôn có tổ hợp gen mới mong muốn để giữ hay tăng ưu thế lai. Như vậy con lai nào tốt được giữ lại để tiếp tục sử dụng, con lai được sử dụng vào mục đích sản xuất mà chủ yếu là cho thịt. Trường hợp lai luân chuyển hai giống gọi là lai thay đổi. Ưu thế lai là hiện tượng sinh vật học biểu hiện sự phát triển mạnh mẽ của những cơ thể do lai tạo các con giống gốc không cùng huyết thống.
Ưu thế lai có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự phát triển mạnh mẽ của toàn bộ khối lượng cơ thể, sự tăng cường trao đổi chất, tăng trọng nhanh hơn, chống đỡ bệnh tật tốt hơn, rút ngắn thời gian nuôi…Mặt khác, ưu thế lai hiểu theo từng tính trạng, có tính trạng phát triển, có tính trạng giữ nguyên, thậm chí có tính trạng giảm sút so với giống gốc ( Trần Huê Viên,2000), [33] Đối với đàn lợn đực giống, người ta đã cho phối tạp giao giữa các giống lợn. Đây là phương thức chính để sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi, tạp giao pha máu thường áp dụng trong các trường hợp khi đã có một giống vật nuôi mà đặc tính năng suất của nó tương đối tốt, nhưng nó vẫn còn một số nhược điểm nào đó. Nếu áp dụng biện pháp chọn lọc nhân thuần để cải tiến nhược điểm này thì mất rất nhiều thời gian. Khi đó, chúng ta có thể dùng giống vật nuôi này (bị pha máu) và giống vật nuôi khác có ưu điểm mà giống kia không có để làm giống (đi pha máu).
Đem con giống này, tạp giao pha máu với nhau tạo thành con lai để làm giống luôn có sức sống cao hơn, sinh trưởng và sinh sản tốt hơn. - Đối với lợn lai thuộc các công thức lai. Nhiều kết quả nghiên cứu và thực tế cho thấy, việc lai giống đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành chăn nuôi lợn. Hiện nay, trên thế giới ở những nước phát triển, trong chăn nuôi lợn, người ta sử dụng tới 90% con giống thương phẩm là con lai.
Tuy nhiên, việc kết hợp giữa lai giống nào giữa ưu thế lai cao còn phụ thuộc vào sự lựa chọn, xác định ưu thế lai của tổ hợp lai dựa trên giá trị giống. 6 Để có được đàn lợn nai nuôi thịt, có khả năng sinh trưởng phát triển cao và tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng thấp, tỷ lệ nạc cao, hiện nay hệ thống sản xuất con lai còn được tổ chức theo sơ đồ hình tháp nhằm thực hiện các công thức lai giữa nhiều dòng giống khác nhau, hệ thống sản xuất con lai được tổ chức như sau: + Đàn cụ kỵ (GGP) có nhiệm vụ sản xuất ra đàn ông bà + Đàn ông, bà (GP) sản xuất tạo ra đàn bố mẹ. Nếu dùng công thức lai giữa bốn dòng, giống khác nhau, cần có hai đàn ông bà khác nhau, một đàn ông bà tạo ra dòng bố, còn đàn kia tạo ra dòng mẹ. Còn nếu sử dụng công thức lai giữa ba dòng khác nhau, chỉ cần một đàn ông bà, đàn này dùng để tạo ra đàn mẹ, còn đàn bố thường là dòng, giống thuần trong đàn cụ, kỵ.
- Đàn bố, mẹ (PS): Lai giữa hai đàn bố mẹ tạo ra đàn thương phẩm - Đàn thương phẩm: là các đàn được nuôi để giết thịt. H(%)= ½(AB+BA)- ½((A+B) * 100 ½(A+B) Trong đó: 1/2AB là trung bình của con (A là bố, B là mẹ) 1/2BA là trung bình của con (B là bố, A là mẹ) ½(A+B) là trung bình của bố, mẹ. Về bản chất hiện tượng của ưu thế lai được Nguyễn Thiện (2002)[27], giải thích bởi ba thuyết đó là: Thuyết trội, thuyết siêu trội và thuyết át gen. Ưu thế lai mang đến từ ba kiểu: Từ cá thể, từ con mẹ, từ con bố.
Con lợn lai thể hiện ưu thế lai cá thể làm cho tăng trọng nhanh hơn, tỷ lệ nuôi sống cao hơn so với bố mẹ thuần chủng. Ưu thế lai từ con mẹ làm cho con nái lai đẻ nhiều lợn con hơn, cai sữa con nặng hơn, nhiều hơn so với mẹ thuần. Ưu thế lai từ con bố làm cho con đực lai động dục sớm hơn và tính dục hăng hơn so với bố thuần. Đặc điểm sinh trưởng phát dục của lợn đực Sinh trưởng là quá trình tích lũy các hữu cơ trong cơ thể.
Đó là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang và khối lượng các bộ phận của toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở bản chất di truyền của đời trước quy định. Trong chăn nuôi lợn, khả năng sinh trưởng của lợn liên quan đến khối lượng cai sữa, khối lượng xuất chuồng, ảnh hưởng rất lớn đến giá thành và hiệu quả chăn nuôi. 7 Các sinh vật sinh ra và lớn lên gọi là sự phát triển của sinh vật. Sinh vật sống biểu thị tính cảm ứng, tính sinh sản, tính phát triển, tính tạo ra năng lượng, tính hao mòn và chết.
Đặc điểm của sinh vật là hấp thu, sử dụng năng lượng của môi trường xung quanh làm thành chất cấu tạo nên cơ thể của mình để lớn lên và phát triển. Do vậy, các giống của gia súc khác nhau thì có quá trình sinh trưởng khác nhau, chủ yếu là quá trình tích lũy protein. Giai đoạn đầu từ sơ sinh đến 05 tháng tuổi, giái đoạn này của lợn chủ yếu là tích lũy cơ và khoáng chất, đặc biệt là sự phát triển của cơ. Mô cơ bao gồm một số sợi cơ nhất định liên kết với nhau thành bó, có vỏ liên kết bao bọc.
Ở giai đoạn còn non, lợn có nhiều mô cơ liên kết và sợi cơ, nhưng càng lớn thì tỷ lệ cơ càng giảm. Giai đoạn mới sinh, thớ cơ mỏng, do đó bó cơ cũng như cấu trúc của thịt tốt, khi khối lượng cơ thể tăng theo tuổi thì sợi cơ dày thêm và bó cơ trở nên lớn hơn. Tuy nhiên, đến giai đoạn 60-70kg trở đi, khả năng tích lũy cơ giảm dần, tốc độ tịch lũy mỡ tăng lên, mức độ tăng này tùy thuộc vào tốc độ tích lũy mỡ dưới da, vì lượng mỡ dưới da chiếm 2/3 tổng số mỡ trong cơ cùng với sự tăng lên về khối lượng thì vật chất khô và tỷ lệ mỡ cũng tăng lên, đồng thời tỷ lệ protein giảm nhẹ và tăng protein cao nhất đạt được ở khối lượng 40-70kg, sau đó giảm dần. Do vậy, ở lợn đang lớn, quá trình tổng hợp protein tăng dẫn đến làm tăng sự tạo thành nạc.
Một số đặc điểm dinh lý sinh dục ở lợn đực. Đặc điểm và thành phần hóa học của tinh dịch lợn * Màu sắc của tinh dịch: Bình thường tinh dịch lợn thường có màu trắng sữa hoặc như nước vo gạo. Nhiều lợn đực nội (đặc biệt là lợn đực trưởng thành) do nồng độ tinh trùng thấp nên tinh dịch loãng và trong hơn so với lợn ngoại. * Độ vẩn của tinh dịch.
Nó thể hiện sức sống và nồng độ của tinh trùng. Có thể dùng chỉ tiêu này để đánh giá sức sống và độ đậm đặc của tinh dịch bằng mắt thường. Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1993) [26] thì độ vẩn của tinh dịch như sau: - Khi tinh dịch đậm đặc, người ta nhận thấy có trạng thái chuyển động trong lòng chất lỏng sẽ ghi nhận bằng kí hiệu: +++ 8 - Khi tinh dịch có độ đậm đặc trung bình, độ vẩn được kí hiệu: ++ - Khi tinh dịch loãng, nhận thấy độ đậm đặc hầu như không đáng kể, được kí hiệu: + - Đối với tinh dịch lợn ngoại, độ vẩn thường đạt: +++, lợn lai và lợn giống mới thường đạt: ++, còn lợn nội thường đạt: +. * Thành phần tinh dịch lợn đực.
Tinh thanh: là hỗn hợp chất lỏng được tiết ra từ tuyến sinh dục phụ và tinh dịch phụ hoàn. Tinh thanh chiếm phần chủ yếu trong tinh dịch. Ở lợn, tinh thanh có rất nhiều, do tuyến sinh dục phụ của lợn rất phát triển. Tinh thanh có tác dụng rửa đường niệu đạo, hoạt hóa tinh trùng và cung cấp chất dinh dưỡng cho tinh trùng.
Tinh thanh chiếm 95-98% khối lượng tinh dịch. Tinh trùng lợn là tế bào sinh dục đực được hình thành trong ống sinh tinh trong dịch hoàn của lợn. Các ống này, chứa rất nhiều loại tế bào khác nhau như tế bào mầm, tinh bào sơ cấp, tinh bào thứ cấp, tiền tinh trùng, tinh trùng. Trong đó quan trọng nhất là tế bào mầm.