Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải là công trình đại thủy nông có quy mô phục vụ rộng lớn tại vùng Đồng bằng sông Hồng với tổng diện tích tự nhiên 214.952 ha, trong đó diện tích trong đê chiếm 192.085 ha, phục vụ dân sinh và sản xuất cho hơn 3.001.295 người dân thuộc các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh và thành phố Hà Nội. Được xây dựng từ năm 1958, sau hơn 60 năm vận hành, hệ thống đang đối mặt với tình trạng mất cân đối nguồn nước nghiêm trọng. Sự suy giảm dòng chảy mùa kiệt trên lưu vực sông Hồng cùng tác động điều tiết của các hồ chứa thượng nguồn khiến mực nước tại cống đầu mối Xuân Quan thường xuyên hạ thấp từ 0,25 m đến 0,40 m so với cao trình thiết kế, cá biệt có thời điểm mực nước ngoài sông xuống dưới 0,80 m, làm tê liệt khả năng lấy nước tự chảy vào mùa khô.

Trước thực trạng thiếu hụt nguồn nước trầm trọng trong vụ Đông Xuân, việc khai thác nguồn nước ngược từ phía hạ du thông qua cống Cầu Xe (lấy nước từ sông Thái Bình) và cống An Thổ (lấy nước từ sông Luộc) trở thành giải pháp cấp bách nhằm bổ sung nước tưới cho hơn 740.318 người dân tại 4 huyện phía nam tỉnh Hải Dương gồm Tứ Kỳ, Gia Lộc, Thanh Miện và Ninh Giang. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, từ đó đề xuất các giải pháp công trình và phi công trình nhằm nâng cao khả năng tiếp nhận nước qua hai cống Cầu Xe và An Thổ trong giai đoạn 2018–2050. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp căn cứ kỹ thuật chuẩn xác giúp nâng cao 15% đến 25% hiệu quả cấp nước tưới tự chảy và bảo đảm an ninh tài nguyên nước cho toàn vùng hạ lưu Bắc Hưng Hải.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết cân bằng nước lưu vực (Water Balance Framework) kết hợp với lý thuyết thủy lực dòng chảy hở một chiều không ổn định mô tả qua hệ phương trình Saint-Venant và lý thuyết lan truyền chất/độ mặn (Advection-Dispersion). Bên cạnh đó, khung lý thuyết dự báo tác động của biến đổi khí hậu dựa trên kịch bản nồng độ khí nhà kính đại diện phát thải cao RCP8.5 theo công bố của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) và Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam được sử dụng làm cơ sở ngoại suy các yếu tố khí tượng thủy văn tương lai.

Các khái niệm then chốt được phát triển xuyên suốt đề tài bao gồm: cơ chế "lấy nước ngược theo triều" (tidal reverse intake) – tận dụng pha triều dâng để đẩy nước ngọt ngược dòng vào mạng lưới kênh trục nội đồng; "ngưỡng xâm nhập mặn cho phép" trong sản xuất nông nghiệp (độ mặn giới hạn dưới 1,0‰); và "mức độ tổn thương nguồn nước" dưới tác động kép của nước biển dâng và suy thoái dòng chảy mùa cạn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu khí tượng thủy văn toàn diện trong giai đoạn 1961–2018 thu thập từ Trạm khí tượng Hải Dương, Trạm thủy văn Sơn Tây, Hà Nội, kết hợp chuỗi số liệu quan trắc mực nước thực đo liên tục theo giờ tại cống Bá Thủy, cống Cầu Xe và cống An Thổ trong các đợt xả nước vụ Đông Xuân giai đoạn 2014–2018. Phương pháp chọn mẫu tập trung vào các chuỗi thời gian khắc nghiệt nhất trong mùa kiệt (từ tháng 1 đến tháng 4 hàng năm) nhằm nhận diện chuẩn xác các kịch bản bất lợi về nguồn nước.

Phương pháp phân tích mô hình hóa số trị được thực hiện thông qua bộ phần mềm chuyên ngành MIKE 11 với hai phân hệ chính: mô đun thủy lực MIKE 11 HD và mô đun chất lượng nước/lan truyền độ mặn MIKE 11 AD. Lý do lựa chọn MIKE 11 xuất phát từ khả năng mô phỏng vượt trội mạng lưới sông kênh phức tạp có dòng chảy đảo chiều chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều tại hạ lưu sông Thái Bình và sông Luộc. Mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định chặt chẽ thông qua hệ số hiệu quả Nash-Sutcliffe đạt giá trị từ 0,85 đến 0,92, khẳng định mức độ tin cậy rất cao của các kết quả tính toán mô phỏng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự suy thoái nghiêm trọng của dòng chảy tự nhiên từ sông Hồng vào cống Xuân Quan trong mùa kiệt. Mực nước trung bình tháng 1 đến tháng 3 tại Hà Nội trong giai đoạn 1988–2010 đã giảm mạnh so với thời kỳ 1956–1987, với các giá trị thấp nhất ghi nhận chỉ đạt 0,66 m (năm 2009) và 0,80 m (năm 2008), khiến lưu lượng lấy nước qua cống đầu mối Xuân Quan bị suy giảm hơn 35% so với yêu cầu thiết kế ban đầu.

Thứ hai, kết quả tính toán nhu cầu nước cho thấy tổng lượng nước yêu cầu của toàn vùng 4 huyện tăng trưởng liên tục qua các giai đoạn. Cụ thể, diện tích đất công nghiệp tăng từ 808,1 ha năm 2018 lên 1.088,7 ha vào năm 2030; nhu cầu nước sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản mở rộng (trên 4.650 ha mặt nước nuôi thủy sản) kết hợp cùng sự gia tăng nhiệt độ từ 1,1°C (năm 2030) đến 3,5°C (năm 2050) theo kịch bản RCP8.5 làm lượng bốc thoát hơi nước tiềm năng tăng từ 7% đến 16%, đẩy tổng nhu cầu dùng nước tăng hơn 18% vào năm 2030 và trên 26% vào năm 2050.

Thứ ba, mô phỏng thủy lực chứng minh cống Cầu Xe (3 cửa x 2,5 m) và cống An Thổ (6 cửa x 4,0 m kết hợp âu thuyền 8,0 m) có khả năng bổ sung lưu lượng đáng kể từ 45 m3/s đến 85 m3/s cho hệ thống sông trục Cửu An và Đình Đào trong các kỳ triều cường, đáp ứng từ 60% đến 80% lượng nước thiếu hụt cho khu vực hạ du Bắc Hưng Hải.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện nguy cơ xâm nhập mặn gia tăng khi nước biển dâng 30 cm đến 50 cm, khiến ranh mặn 1,0‰ lấn sâu vào sông Thái Bình và sông Luộc thêm 3 km đến 5 km, rút ngắn thời gian lấy nước ngọt an toàn chỉ còn 4 đến 6 giờ trong mỗi chu kỳ triều.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng thiếu nước là sự kết hợp giữa biến đổi lòng dẫn sông Hồng do sạt lở và hạ thấp đáy sông, việc vận hành hồ chứa thượng lưu chưa đồng bộ với lịch triều hạ du, cùng với hiện tượng nước biển dâng gây mặn hóa nguồn nước ngoại vi. So với các nghiên cứu tại lưu vực sông Đáy hay sông Hương, hệ thống Bắc Hưng Hải chịu áp lực kép phức tạp hơn do vị trí chuyển tiếp giữa vùng ngọt và vùng triều mặn.

Các kết quả nghiên cứu trong luận văn được thể hiện trực quan thông qua: hệ thống biểu đồ quá trình mực nước thực đo so với tính toán tại cống Bá Thủy; biểu đồ diễn biến mực nước hai chiều thượng - hạ lưu cống Cầu Xe và An Thổ theo chuỗi giờ thực tế; biểu đồ cột thể hiện mức độ gia tăng nhu cầu nước đa ngành qua các mốc 2018, 2030, 2050; cùng các bảng ma trận so sánh khả năng cấp nước và cân bằng nước chi tiết ứng với từng phương án mở rộng khẩu độ công trình.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Cải tạo và mở rộng khẩu độ cống An Thổ: Triển khai mở rộng tiết diện dẫn nước của cống An Thổ nhằm tăng lưu lượng tiếp nhận nước từ sông Luộc thêm 20% đến 30% (đạt mức lưu lượng thiết kế từ 60 m3/s đến 75 m3/s), hoàn thành xây lắp trong giai đoạn 2022–2026 dưới sự chủ trì của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
  2. Nạo vét đồng bộ mạng lưới kênh trục nội đồng: Thực hiện nạo vét tuyến sông Cửu An (đoạn cống Neo đến ngã ba Cự Lộc), sông Đình Đào và tuyến kênh Lộng Khê – An Thổ với tổng chiều dài trên 25 km, hạ thấp cao trình đáy kênh đạt mức thiết kế -4,0 m, khắc phục triệt để tình trạng bồi lắng từ 0,3 m đến 0,7 m hiện nay, hoàn thành trước năm 2025 do Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương phối hợp chỉ đạo.
  3. Thiết lập hệ thống quan trắc mặn và vận hành tự động: Lắp đặt 4 trạm đo độ mặn tự động truyền dữ liệu theo thời gian thực tại thượng - hạ lưu hai cống Cầu Xe và An Thổ, tích hợp quy trình điều khiển đóng mở cửa van thông minh: tự động mở lấy nước khi độ mặn ngoài sông dưới 0,8‰ kết hợp triều dâng và tự động đóng chặn khi độ mặn vượt quá 1,0‰, thực hiện trong giai đoạn 2023–2025 bởi Công ty TNHH Một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải.
  4. Điều chỉnh lịch thời vụ và áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm: Ban hành khung lịch gieo cấy lúa vụ Đông Xuân trùng khớp với các đợt xả nước tăng cường từ hồ chứa thủy điện Hòa Bình và các kỳ triều cường cao (từ ngày 27 tháng 1 đến ngày 15 tháng 2 hàng năm), chuyển đổi diện tích đất lúa kém hiệu quả sang cây trồng cạn có nhu cầu nước thấp hơn 30%, do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các địa phương hướng dẫn bà con nông dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý và kỹ sư vận hành công trình thủy nông: Đặc biệt là đội ngũ kỹ thuật tại Công ty TNHH Một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải và các công ty thủy lợi thuộc lưu vực sông Hồng; ứng dụng trực tiếp thuật toán và khung giờ vận hành đóng mở cống Cầu Xe, An Thổ theo con triều thực tế.
  2. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh; sử dụng dữ liệu dự báo nhu cầu nước đến năm 2050 để phê duyệt các dự án đầu tư nâng cấp hạ tầng thủy lợi thích ứng biến đổi khí hậu.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Thủy văn, Tài nguyên nước: Sử dụng phương pháp luận kết hợp mô hình MIKE 11, Mike NAM và kịch bản RCP8.5 làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu mẫu mực về giải bài toán thủy lực hai chiều và cân bằng nước lưu vực.
  4. Các chuyên gia và tổ chức tư vấn môi trường, biến đổi khí hậu: Tham khảo mô hình phân tích tác động của nước biển dâng và xâm nhập mặn để xây dựng các báo cáo đánh giá rủi ro thiên tai và kế hoạch thích ứng cho các đồng bằng ven biển.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao hệ thống Bắc Hưng Hải phải lấy nước ngược qua cống Cầu Xe và An Thổ? Do đáy sông Hồng bị hạ thấp và lưu lượng xả mùa kiệt suy giảm, mực nước tại cống đầu mối Xuân Quan bị tụt thấp từ 0,25 m đến 0,40 m so với thiết kế, khiến lượng nước tự chảy vào hệ thống bị thiếu hụt trên 35%. Việc lấy nước ngược từ sông Thái Bình và sông Luộc tận dụng triều dâng qua cống Cầu Xe và An Thổ là giải pháp bắt buộc để bổ sung nguồn nước tưới cho 4 huyện hạ lưu.

Nghiên cứu áp dụng kịch bản biến đổi khí hậu nào để tính toán? Tác giả áp dụng kịch bản phát thải cao RCP8.5 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Theo kịch bản này, nhiệt độ trung bình tại khu vực nghiên cứu dự báo tăng 1,1°C vào năm 2030 và tăng tới 3,5°C vào năm 2050, lượng bốc hơi tiềm năng tăng 7% đến 16% và mực nước biển dâng lên đến 100 cm vào năm 2100, tạo nên áp lực cực lớn đối với nguồn nước.

Độ tin cậy của mô hình MIKE 11 trong luận văn được đánh giá ra sao? Mô hình MIKE 11 được kiểm định bằng chuỗi số liệu thực đo theo giờ trong các đợt lấy nước vụ Đông Xuân tại trạm cống Bá Thủy và các nhánh sông chính. Kết quả tính toán đạt chỉ số Nash-Sutcliffe từ 0,85 đến 0,92 và sai số mực nước cực đại dưới 5 cm, chứng minh mô hình hoàn toàn đáp ứng độ tin cậy để mô phỏng thủy lực và lan truyền mặn.

Nguy cơ xâm nhập mặn ảnh hưởng như thế nào đến khả năng lấy nước của hai cống? Vào các tháng kiệt nhất (tháng 1 đến tháng 3), nước biển dâng đẩy ranh mặn 1,0‰ tiến sâu vào nội đồng thêm từ 3 km đến 5 km trên sông Thái Bình và sông Luộc. Điều này giới hạn khung thời gian lấy nước ngọt an toàn chỉ còn 4 đến 6 giờ mỗi ngày trong lúc đỉnh triều lên cao nhất, đòi hỏi phải đóng cống kịp thời khi mặn bắt đầu xâm nhập.

Giải pháp công trình trọng điểm nào mang lại hiệu quả cao nhất? Giải pháp tối ưu là kết hợp mở rộng khẩu độ cống An Thổ thêm từ 20% đến 30% diện tích thoát nước và nạo vét đồng bộ hơn 25 km lòng dẫn sông Cửu An, sông Đình Đào về cao trình thiết kế -4,0 m. Giải pháp này giúp tăng lưu lượng cấp nước vào hệ thống thêm 15 m3/s đến 25 m3/s, giải quyết căn bản bài toán ứ nghẽn dòng chảy.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện hiện trạng suy giảm nguồn nước tại cống đầu mối Xuân Quan và xác định nhu cầu nước ngày càng tăng của 4 huyện Tứ Kỳ, Gia Lộc, Thanh Miện, Ninh Giang đến năm 2050.
  • Ứng dụng thành công mô hình MIKE 11 mô phỏng chính xác chế độ thủy lực lấy nước ngược qua cống Cầu Xe và An Thổ dưới tác động của kịch bản biến đổi khí hậu RCP8.5.
  • Xác định định lượng khả năng bổ sung lưu lượng từ 45 m3/s đến 85 m3/s qua hai cống đầu mối hạ lưu, đáp ứng 60% đến 80% nhu cầu tưới thiếu hụt trong vụ Đông Xuân.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình (mở rộng cống An Thổ, nạo vét kênh Cửu An) kết hợp phi công trình (giám sát mặn tự động, đóng mở theo triều) có tính khả thi kỹ thuật và hiệu quả kinh tế cao.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện Quy trình vận hành hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải giai đoạn 2020–2050 thích ứng bền vững với nước biển dâng.

Đóng góp lớn nhất của công trình là chuyển hóa phương thức vận hành hệ thống từ thế bị động sang chủ động khai thác động lực thủy triều ven biển để cấp nước ngọt. Trong giai đoạn 2022–2025, các đơn vị quản lý cần khẩn trương triển khai nạo vét các điểm nghẽn kênh trục và lắp đặt các trạm quan trắc mặn tự động. Quý độc giả, các nhà quản lý và các chuyên gia quan tâm có thể tra cứu toàn văn luận văn tại Thư viện Trường Đại học Thủy lợi để khai thác chi tiết các thông số kỹ thuật và bộ dữ liệu mô phỏng phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước chuyên sâu.