Đặt vấn đề Cây dong riềng có tên khoa học là Canna edulis (Indica), họ Dong riềng (Cannaceae) có nguồn gốc từ Nam mỹ và trồng ở nước ta vào đầu thế kỷ 19. Dong riềng là cây trồng sinh trưởng, phát triển mạnh, có khả năng thích ứng rộng, trồng được trên nhiều loại đất kể cả các vùng đất nghèo dinh dưỡng, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận đặc biệt là chịu hạn, năng suất củ tươi có thể đạt từ 45 - 60 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 13,36- 16,4% (Nguyễn Thiếu Hùng và CS, 2010) [6]. Do có hàm lượng tinh bột cao nên củ dong riềng thường được dùng để chế biến tinh bột, chăn nuôi gia súc, đặc biệt là được sử dụng để làm miến dong, bánh đa, bánh mì, bánh bao, kẹo. Ngoài ra, thân, lá dong riềng còn dùng cho chăn nuôi gia súc nên góp phần tận dụng thúc đẩy chăn nuôi phát triển.
Theo đánh giá của người dân, dong riềng dễ trồng, ít tốn công chăm sóc nên trồng dong riềng có hiệu quả kinh tế cao. Một ha trồng dong riềng cho doanh thu 80 - 100 triệu, trừ chi phí đi khoảng 20 - 25 triệu, người dân có thể lãi trung bình khoảng 60-80 triệu đồng/ha (thu từ củ). Trồng dong riềng trên diện tích lớn hoặc chế biến thành tinh bột thì có thể được lãi nhiều hơn. Cây dong riềng có thể trồng trên nhiều loại đất, ở nhiều điều kiện sinh thái khác nhau.
Sự mất cân bằng dinh dưỡng trong đất ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng bình thường của cây. Do có năng suất sinh khối lớn (đạt từ 40 – 70 tấn củ và 50 – 60 tấn lá/ha) nên hàng năm dong riềng lấy đi từ đất một lượng dinh dưỡng khá lớn. Khi năng suất dong riềng ngày càng tăng thì nhu cầu của phân bón cũng được tăng lên. Trong những năm gần đây, diện tích trồng cây dong riềng ngày càng tăng nhưng năng suất vẫn còn thấp và không ổn định, để tăng sản lượng dong riềng cho nhu cầu trong nước, chế biến và xuất khẩu, bên cạnh việc mở rộng diện tích, sử dụng giống mới cho năng suất cao….Thì việc sử dụng các loại phân bón là một yếu tố quan trọng làm tăng năng suất và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Phân bón có một vị trí quan trọng trong việc nâng cao sức sản xuất của đất, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, tăng năng suất và chất lượng nông sản. Tuy nhiên, muốn nâng cao hiệu lực của phân bón cần xác định liều lượng, tỉ lệ giữa các n 2 nguyên tố dinh dưỡng phù hợp với từng loại đất và từng vùng tiểu khí hậu cụ thể. Xuất phát từ thực tế đó, được sự giúp đỡ của khoa Nông Học trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng sự giúp đỡ tận tình của thầy cô hướng dẫn, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến sinh trưởng và phát triển của giống dong riềng DR1 tại trường ĐHNL Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định tổ hợp NPK thích hợp nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất dong riềng.
Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến khả năng sinh trưởng và năng suất của dong riềng. - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến khả năng chống chịu của dong riềng. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế. Đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp cận với những phương pháp nghiên cứu khoa học, nâng cao kiến thức và tích lũy kinh nghiệm thực tế.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Qua kết quả nghiên cứu xác định được công thức bón phân phù hợp với sản xuất dong riềng tại Thái Nguyên và đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức bón. Từ đó khuyến cáo ra sản xuất. n 3 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong riềng 2.
Nguồn gốc và sự phân bố của cây dong riềng Dong riềng có nguồn gốc ở Peru, Nam Mỹ. Được chế biến lấy bột để làm lương thực, thực phẩn là chính. Người ta đã xác định được 7 loài dong riềng nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ và Trung Quốc (Darlington và Janaki, 1945) đó là: - Canna discolor ở Tây Ấn nhiệt đới, - C. Flauca ở Tây Ấn và Mêhico, - C.
flaccida ở Nam Mỹ, - C. edulis ở châu Mỹ nhiệt đới, - C. Indica ở châu Mỹ nhiệt đới, - C.humilis ở Trung Quốc. Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở nhiều nước có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới.
Trong đó Nam Mỹ là trung tâm đa dạng di truyền nguồn gen dong riềng, ngoài ra dong riềng được trồng nhiều ở các nước châu Á, châu Phi, Châu Úc. Dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước vùng nam Mỹ, châu Phi, và một số nước nam Thái Bình Dương. Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và Đài Loan (Hermann và CS, 2007) [16]. Phân loại cây dong riềng - Tên khoa học: Canna Edulis Ker - Dong riềng thuộc họ chuối hoa Cannacea - Bộ: Scitaminales Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n = 2X = 18 và tam bội 2n = 2X = 27 2.
Đặc điểm thực vật học cây dong riềng n 4 Thân: Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ. Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2m đến 1,5m có những giống có thể cao trên 2,5m. Thân cây thường có mầu xanh hoặc xen tím. Thân gồm những lóng kéo dài, giữa các lóng là các đốt; Thân khí sinh được tính từ đốt tiếp phần củ.
Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên ngoài thân được cấu tạo bởi lớp biểu bì gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương mô xếp thành những bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp đến là những bó libe và mạch gỗ và trong cùng là nhu mô. Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có thể đạt chiều dài 60 cm. Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh bột, thân rễ nằm trong đất. Thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy, lúc mới ra lá vảy có hình chóp nhọn dần dần to ra sẽ bị rách và tiêu dần; Trên mỗi đốt của thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh có thể phân chia thành các nhánh cấp 1 hay đến cấp 3.
Vỏ của thân có thể có màu trắng, vàng kem đến màu tía hồng. Kích thước củ biến động khá lớn phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm bón. Giải phẫu thân rễ cho thấy phía ngoài cùng của củ là biểu bì gồm những tế bào dẹt, tiếp là nhu mô bên trong có những bó cương mô và những bó mạch dẫn libe và gỗ, tiếp là lớp tế bào nhu mô chứa ít một số hạt tinh bột, vào trong nữa là lớp trụ bì rất rõ và trong cùng là nhu mô chứa nhiều hạt tinh bột. So với thân khí sinh thân rễ có ít bó cương mô hơn.
Năng suất cây dong riềng rất cao. Nếu trồng ở nơi đất tốt, một khóm dong riềng có thể thu được 15 – 20 kg củ. Trồng thâm canh trên diện tích lớn dong riềng cho năng suất 50 – 60 tấn/ha. Lá: Lá dong riềng gồm phiến lá và cuống lá với bẹ lá ở phía gốc, lá của cây dong riềng thuôn dài, mặt trên của lá có màu xanh hoặc xanh lục xen tím, mặt dưới màu xanh hoặc màu tím.
Lá dài khoảng 35 – 60 cm và có chiều rộng 22 – 25 cm; Mép lá nguyên, xung quanh mép lá có viền một đường mỏng mầu tím đỏ hoặc màu trắng trong; Phiến lá có gân giữa to, gân phụ song song, có màu xanh hoặc tím đỏ; Cuống lá dạng bẹ ôm lấy thân có chiều dài khoảng 8 – 15 cm. n 5 Rễ: Bộ rễ cây dong riềng thuộc loại rễ chùm, rất phát triển; Rễ mọc từ các đốt của thân củ, từ lớp tế bào trụ bì ở đốt thân củ phát triển ra thành rễ. Rễ của cây dong riềng phát triển liên tục phân thành rễ cấp 1, cấp 2 và cấp 3 (tùy thuộc vào giống). Do củ phát triển theo chiều ngang nên rễ chỉ ăn sâu vào đất khoảng 20 – 30 cm.
Hoa: Hoa dong riềng xếp thành cụm, cụm hoa dạng chùm, hoa mọc ở ngọn cây. Cây thường mang ít hoa lưỡng tính, không đều. Cụm hoa được bao bởi một mo chung như hoa chuối. Chùm hoa thiết diện hình tam giác, có từ 6 – 8 đốt, mỗi đốt có 2 hoa, đốt dưới cùng và trên cùng có 1 hoa.
Cấu tạo hoa gồm có 3 lá đài hình cánh rời nhau, 3 cánh hoa dài thon cuộn theo chiều dài. Hoa có 5 nhị đực, ngoài có 3 nhị thì 2 nhị biến thành bản hình cánh hoa, 1 nhị biến thành cánh môi cuộn lại phía trước. Vòng trong có 2 nhị, trong đó 1 nhị bị tiêu biến chỉ còn vết, nhị kia thì một nửa cánh mang 1 bao phấn, nửa còn lại cũng biến thành hình cánh. Tất cả các nhị đều có màu sắc sặc sỡ, màu cánh biến động từ màu đỏ tươi đến màu vàng điểm đỏ.
Bầu hoa có 3 ô, mỗi ô có từ 6 – 8 noãn, phía trên bầu có tuyến tiết mùi. Thời gian từ nụ đến nở hoa từ 3 – 5 ngày, hoa nở theo thứ tự từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài; Hoa nở vào buổi sáng, mỗi hoa nở từ 1 - 2 ngày. Quả: Quả của cây dong riềng thuộc dạng qủa nang, hình trứng ngược, kích thước khoảng 3cm, trên quả nang có nhiều gai mềm. Hạt: Hạt của cây dong riềng có màu đen, hình tròn đường kính 3,5 – 5 mm.
Khối lượng 1000 hạt khoảng 12 – 13 g. Yêu cầu sinh thái của cây dong riềng Yêu cầu về nhiệt độ: Cây dong riềng thích hợp từ 25-300C, điều kiện ấm áp dong riềng sinh trưởng phát triển khỏe hơn, tốc độ đồng hóa cao và đẩy nhanh quá trình hình thành thân củ, thời tiết hanh và hơi lạnh đẩy nhanh quá trình vận chuyển tinh bột từ thân lá xuống củ. Dong riềng chịu lạnh khá nên có khả năng trồng ở độ cao trên 2.500 m so với mặt nước biển. Yêu cầu ánh sáng: Dong riềng không cần nhiều ánh sáng, nên có thể trồng dưới tán cây ăn quả, cây sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng.
Ngày dài có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành củ.