Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây dong riềng (Canna edulis Ker, đồng danh Canna indica) thuộc họ Dong riềng (Cannaceae), có nguồn gốc từ Nam Mỹ và được đưa vào canh tác tại Việt Nam từ đầu thế kỷ 19. Đây là loại cây trồng cạn có biên độ thích ứng sinh thái rộng, chịu hạn tốt, có thể phát triển trên nhiều loại đất nghèo dinh dưỡng và đất dốc vùng đồi núi. Củ dong riềng chứa hàm lượng tinh bột từ 13,36% đến 16,4%, đóng vai trò là nguồn nguyên liệu chính trong công nghiệp chế biến miến, bánh kẹo và sản xuất thức ăn gia súc. Theo thực tiễn sản xuất được tác giả dẫn giải, canh tác dong riềng có thể đạt doanh thu 80 – 100 triệu đồng/ha, mang lại lợi nhuận bình quân 60 – 80 triệu đồng/ha từ củ tươi, cao gấp 2 – 3 lần so với trồng lúa tại các chân đất đồi dốc khó khăn.

Do tạo ra sinh khối lớn (40 – 70 tấn củ và 50 – 60 tấn lá trên mỗi hecta), cây dong riềng lấy đi một lượng dinh dưỡng khoáng rất lớn từ đất canh tác. Mặc dù diện tích gieo trồng tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc đang gia tăng để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu miến dong, năng suất thu hoạch thực tế vẫn còn thấp và chưa ổn định. Sự mất cân đối dinh dưỡng khoáng trong đất là yếu tố cản trở sinh trưởng bình thường của cây. Việc sử dụng phân bón vô cơ NPK là giải pháp kỹ thuật cần thiết, tuy nhiên liều lượng và tỷ lệ phối trộn tối ưu cho từng vùng sinh thái chưa được xác định cụ thể. Trước thời điểm nghiên cứu, tại tỉnh Thái Nguyên chưa có công trình thực nghiệm nào khảo sát tỷ lệ bón NPK phù hợp cho giống dong riềng mới.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định tổ hợp phân bón NPK thích hợp nhằm nâng cao năng suất củ và hiệu quả kinh tế trong canh tác dong riềng.

Hai nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định gồm:

  1. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến khả năng sinh trưởng và năng suất của giống dong riềng.
  2. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến khả năng chống chịu sâu bệnh và đổ ngã của giống dong riềng.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các tổ hợp phân bón NPK và giống dong riềng DR1. Giống DR1 được Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cấp phép sản xuất thử tại các tỉnh phía Bắc theo Quyết định số 608/QĐ-TT-CLT ngày 14/12/2010; giống có thời gian sinh trưởng 250 – 280 ngày, chiều cao trung bình 165 – 185 cm, củ ruột trắng, năng suất tiềm năng 45 – 60 tấn/ha.
  • Phạm vi không gian: Khu thí nghiệm cây trồng cạn thuộc Viện Khoa học sự sống (KHSS), Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực nghiệm ngoài đồng ruộng từ tháng 2 năm 2013 đến tháng 12 năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý luận, khóa luận dựa trên đặc điểm phân loại thực vật học của cây dong riềng (Canna edulis Ker, họ Cannaceae, bộ Scitaminales; có bộ nhiễm sắc thể dạng nhị bội 2n = 18 hoặc tam bội 2n = 27). Nhu cầu dinh dưỡng của cây dong riềng được tính toán dựa trên các công bố nông học: để tạo ra 1 tấn củ tươi (tương đương 120 – 130 kg tinh bột khô) ở mật độ 20.000 cây/ha, cây lấy đi từ đất 0,54 kg N; 0,53 kg P; 3,11 kg K; 2,47 kg Mg và 0,37 kg Ca. Vai trò sinh lý của từng nguyên tố khoáng được làm rõ theo tài liệu của Trịnh Xuân Vũ (1975) và Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (1998): Nitơ (N) tham gia cấu tạo protein, axit nucleic và diệp lục tố, thúc đẩy đâm chồi, mở rộng diện tích lá; Phốt pho (P) tham gia vận chuyển năng lượng, kích thích rễ phát triển và tăng khả năng chịu rét; Kali (K) điều hòa áp suất thẩm thấu, thúc đẩy quang hợp và vận chuyển tinh bột về củ, đồng thời giúp cây cứng cáp, tăng khả năng chống đổ.

Về phương pháp thực nghiệm, thí nghiệm đồng ruộng được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại. Thí nghiệm gồm 5 công thức với tổng diện tích 300 m² (mỗi ô thí nghiệm 20 m², chưa kể diện tích rãnh và dải bảo vệ), trồng vào ngày 21/02/2013 trên nền bón lót cố định 3 tấn phân vi sinh/ha:

  • Công thức 1 (CT1): 150 kg N : 60 kg P₂O₅ : 150 kg K₂O/ha
  • Công thức 2 (CT2): 175 kg N : 80 kg P₂O₅ : 175 kg K₂O/ha
  • Công thức 3 (CT3 - Đối chứng): 200 kg N : 100 kg P₂O₅ : 200 kg K₂O/ha
  • Công thức 4 (CT4): 225 kg N : 120 kg P₂O₅ : 225 kg K₂O/ha
  • Công thức 5 (CT5): 250 kg N : 140 kg P₂O₅ : 250 kg K₂O/ha

Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi được thực hiện theo quy chuẩn của Trung tâm Khoai tây Quốc tế (CIP) và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có củ:

  • Tỷ lệ mọc (%) và thời gian từ trồng đến mọc (ngày, tính khi có ≥ 50% khóm mọc mầm).
  • Động thái sinh trưởng: Đo đếm định kỳ 10 ngày/lần trên 10 cây liên tục ở hàng giữa ô (bắt đầu từ ngày thứ 10 sau mọc) gồm chiều cao cây (từ mặt đất đến mút lá dài nhất), động thái ra lá (phương pháp đánh dấu lá), đường kính thân (đo bằng thước Panme cách gốc 10 cm).
  • Độ đồng đều và tính chống đổ: Đánh giá theo thang điểm 1 – 9.
  • Sâu bệnh hại: Điều tra tỷ lệ hại của sâu ăn lá, phân cấp theo thang điểm 0 – 9 (Điểm 0: không hại; Điểm 1: 0 – 5%; Điểm 3: 5 – 25%; Điểm 5: 25 – 50%; Điểm 7: 50 – 75%; Điểm 9: 75 – 100%).
  • Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: Khối lượng củ/khóm (thu 5 khóm), chiều dài củ, đường kính củ cấp 1, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu khi thu hoạch toàn ô.

Nguồn dữ liệu khí tượng được thu thập từ Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn tỉnh Thái Nguyên trong năm 2013. Số liệu sinh học thực nghiệm được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học qua phần mềm IRRISTAT phiên bản 5.0 (phân tích phương sai ANOVA, so sánh sai khác trung bình LSD ở mức xác suất P = 0,05).

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Mở đầu

Tác giả xác định tính cấp thiết của việc cải thiện năng suất cây dong riềng tại địa phương thông qua quản lý dinh dưỡng. Phần này làm rõ mục tiêu xác định công thức phân bón NPK thích hợp nhất cho giống dong riềng DR1, đồng thời nêu hai nhiệm vụ nghiên cứu cốt lõi về sinh trưởng, năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh, đổ ngã. Khóa luận khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu thực nghiệm cho cây dong riềng tại Thái Nguyên và ý nghĩa thực tiễn cung cấp cơ sở cho các khuyến cáo kỹ thuật thâm canh.

Phần II: Tổng quan tài liệu

Tác giả tổng hợp nguồn gốc phát sinh của 7 loài dong riềng tự nhiên tại Nam Mỹ và Trung Quốc; phân tích các đặc điểm thực vật học giải phẫu của rễ, thân khí sinh, củ, lá, hoa, quả nang và hạt. Yêu cầu sinh thái của cây đòi hỏi nhiệt độ thích hợp 25 – 30°C, lượng mưa 900 – 1200 mm, ưa đất xốp giàu mùn và kém chịu úng. Tài liệu tổng kết diện tích dong riềng thế giới đạt khoảng 30.000 ha với năng suất trung bình 30 tấn/ha; diện tích tại Việt Nam đạt khoảng 30.000 ha với sản lượng 450.000 tấn củ.

Chương này dẫn giải số liệu phát triển vùng nguyên liệu tại tỉnh Bắc Kạn (năm 2010 đạt 270 ha, năm 2011 đạt 551 ha cho 51.000 tấn củ, và năm 2012 nâng lên 21 hợp tác xã chế biến tinh bột, miến dong). Về mặt công nghệ thực phẩm, tác giả viện dẫn nghiên cứu của Lê Ngọc Tú và cộng sự (1994) cho biết kích thước hạt tinh bột dong riềng đạt tới 150 micron (lớn hơn tinh bột sắn 35 micron) và hàm lượng amiloza chiếm 38 – 41%, tạo độ dai giòn đặc trưng cho sợi miến. Về dinh dưỡng khoáng, tổng quan hệ thống hóa các nghiên cứu sinh lý thực vật khẳng định tác động tương hỗ giữa ba nguyên tố N, P, K đến quá trình tích lũy chất khô của củ.

Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết nguồn gốc giống dong riềng DR1 theo Quyết định số 608/QĐ-TT-CLT; xác định địa điểm bố trí thí nghiệm tại Viện Khoa học sự sống, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên từ tháng 2 đến tháng 12 năm 2013. Tác giả trình bày sơ đồ bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 5 công thức NPK với 3 lần nhắc lại trên 15 ô thí nghiệm. Các thang điểm đánh giá chỉ tiêu nông học, công thức tính tỷ lệ hại của sâu bệnh, quy trình lấy mẫu đo đạc kích thước thân, củ và phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm chuyên dụng IRRISTAT 5.0 được chuẩn hóa bằng văn bản.

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này công bố chi tiết các kết quả thu thập ngoài đồng ruộng qua các bảng số liệu:

  • Diễn biến khí hậu 2013 (Bảng 4.1): Nhiệt độ trung bình các tháng biến động 15,0 – 29,0°C, ẩm độ 75 – 86%, lượng mưa từ 16,4 mm (tháng 3) đến cực đại 974,1 mm (tháng 7), giờ nắng 36 – 186 giờ. Nhiệt độ thấp tháng 2 (19,3°C) và mưa dồn dập tháng 7 ảnh hưởng đến sinh trưởng ban đầu và nguy cơ ứ đọng nước.
  • Nảy mầm và thời gian sinh trưởng (Bảng 4.2): Tỷ lệ mọc mầm của 5 công thức đạt 97,5 – 98,0%; thời gian từ trồng đến mọc là 21 – 22 ngày; thời gian ra hoa 145 – 147 ngày; thời gian thu hoạch dao động 283 – 287 ngày. Sự sai khác về thời gian phát dục giữa các công thức là không đáng kể.
  • Động thái tăng trưởng chiều cao cây (Bảng 4.3): Chiều cao tăng nhanh nhất trong giai đoạn 30 – 80 ngày sau mọc. Ở giai đoạn 80 ngày, chiều cao dao động từ 164,5 cm (CT1) đến 178,0 cm (CT5); CT5 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (173,0 cm) ở mức P < 0,05.
  • Động thái tăng trưởng đường kính thân (Bảng 4.4): Tăng nhanh nhất ở giai đoạn 20 – 50 ngày sau mọc. Tại thời điểm 80 ngày sau mọc, đường kính thân đạt 3,3 cm (CT1), 3,4 cm (CT2), 3,5 cm (CT3), 3,6 cm (CT4) và 3,7 cm (CT5).
  • Động thái ra lá (Bảng 4.5): Ở thời điểm 80 ngày sau mọc, số lá trên thân chính biến động từ 11,6 lá (CT1) đến 12,2 lá (CT5). CT5 đạt số lá cao hơn chắc chắn đối chứng CT3 (11,9 lá) ở mức P < 0,05.
  • Đặc điểm hình thái cuối cùng (Bảng 4.6): Đo ở 180 ngày sau trồng, chiều cao cây cuối cùng đạt từ 175,7 cm (CT1) đến 188,7 cm (CT5); đường kính thân đạt 2,51 cm (CT1) đến 2,88 cm (CT5); tổng số lá/thân chính đạt 11,7 – 13,1 lá. Về độ đồng đều, CT1, CT2, CT3 đạt điểm 5 (trung bình), trong khi CT4 và CT5 đạt điểm 7 (khá đồng đều).
  • Sâu bệnh hại và khả năng chống đổ (Bảng 4.7): Điều kiện thí nghiệm ghi nhận duy nhất đối tượng sâu ăn lá xuất hiện. Mức độ gây hại ở CT1, CT2, CT3 đạt điểm 3 (nhẹ, 5 – 25%), còn CT4 và CT5 bị hại ở điểm 5 (trung bình, 25 – 50%). Tất cả 5 công thức đều đạt điểm 1 về tính chống đổ (không có cây đổ).
  • Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất (Bảng 4.8): Đường kính củ biến động từ 3,41 cm (CT1) đến 4,57 cm (CT5); khối lượng củ/khóm từ 1,99 kg (CT1) đến 2,34 kg (CT5); chiều dài củ từ 14,50 cm (CT1) đến 18,50 cm (CT5); năng suất lý thuyết đạt 39,83 – 46,73 tấn/ha; năng suất thực thu đạt từ 36,51 tấn/ha (CT1) đến 44,01 tấn/ha (CT5).
  • Hạch toán kinh tế (Bảng 4.9 và Phụ lục): Chi phí đầu tư tăng dần từ 25,001 triệu đồng/ha (CT1) lên 30,804 triệu đồng/ha (CT5). Lãi thuần thu được ở CT1 là 18,811 triệu đồng/ha; CT2 là 18,327 triệu đồng/ha; CT3 là 18,676 triệu đồng/ha; CT4 là 18,251 triệu đồng/ha; CT5 đạt cao nhất với 22,008 triệu đồng/ha.

Phần V: Kết luận và đề nghị

Khóa luận tổng kết ngắn gọn 5 kết luận về tỷ lệ nảy mầm, khả năng sinh trưởng, tình hình sâu bệnh - chống đổ, năng suất thực thu và hiệu quả kinh tế. Tác giả kiến nghị cần tiếp tục bố trí thí nghiệm thêm 1 năm và bổ sung mức bón NPK cao hơn mức của công thức 5 nhằm xác định chính xác ngưỡng dinh dưỡng tối ưu.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm định lượng về sự biến thiên sinh trưởng, năng suất và hiệu quả tài chính của giống dong riềng DR1 dưới 5 tổ hợp NPK khác nhau:

Chỉ tiêu theo dõi CT1 CT2 CT3 (Đối chứng) CT4 CT5
Tỷ lệ bón N : P₂O₅ : K₂O (kg/ha) 150:60:150 175:80:175 200:100:200 225:120:225 250:140:250
Tỷ lệ mọc mầm (%) 97,8 97,5 98,0 97,5 98,0
Thời gian sinh trưởng (ngày) 283 285 284 285 287
Chiều cao cây cuối cùng (cm) 175,7 178,0 181,1 183,4 188,7
Đường kính thân cuối cùng (cm) 2,51 2,57 2,72 2,80 2,88
Số lá trên thân chính (lá) 11,7 11,8 12,1 12,4 13,1
Sâu ăn lá (điểm 1 - 9) 3 3 3 5 5
Tính chống đổ (điểm 1 - 9) 1 1 1 1 1
Chiều dài củ cấp 1 (cm) 14,50 15,33 15,83 18,17 18,50
Đường kính củ cấp 1 (cm) 3,41 3,43 3,74 4,22 4,57
Khối lượng củ/khóm (kg) 1,99 2,02 2,12 2,13 2,34
Năng suất thực thu (tấn/ha) 36,51 37,31 38,81 39,67 44,01
Tổng chi phí (triệu đồng/ha) 25,001 26,445 27,896 29,353 30,804
Tổng thu nhập (triệu đồng/ha) 43,812 44,772 46,572 47,604 52,812
Lãi thuần (triệu đồng/ha) 18,811 18,327 18,676 18,251 22,008

Tác giả đề xuất giải pháp bón phân cho giống dong riềng DR1 theo công thức 5 (250 kg N + 140 kg P₂O₅ + 250 kg K₂O/ha trên nền bón lót 3 tấn phân vi sinh/ha) để đạt năng suất thực thu cao nhất (44,01 tấn/ha) và lãi thuần cao nhất (22,008 triệu đồng/ha).

Về mặt đóng góp học thuật, đây là công trình khảo nghiệm phân bón có hệ thống đầu tiên trên giống dong riềng DR1 tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Dữ liệu thực nghiệm của khóa luận đã lấp khoảng trống dẫn liệu địa phương, chứng minh mối quan hệ đồng biến giữa liều lượng phân khoáng NPK với kích thước hình thái củ (chiều dài, đường kính củ và khối lượng củ/khóm), đồng thời chỉ ra phản ứng phụ làm tăng mật độ sâu ăn lá ở các mức bón phân đạm cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Thí nghiệm mới chỉ được thực hiện trong phạm vi một vụ canh tác (từ tháng 2 đến tháng 12 năm 2013) tại một tiểu vùng sinh thái đơn lẻ (khu thực nghiệm Viện Khoa học sự sống, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên), do đó chưa đánh giá được biến động năng suất qua các chu kỳ thời tiết nhiều năm.
  • Dải liều lượng khảo sát dừng lại ở mức cao nhất là CT5 (250N : 140P₂O₅ : 250K₂O). Do năng suất và các chỉ tiêu sinh trưởng ở CT5 vẫn tiếp tục tăng so với các công thức thấp hơn, thí nghiệm chưa tìm ra được điểm tới hạn (ngưỡng bão hòa sinh lý) của phân bón đối với giống DR1.

Hướng nghiên cứu tiếp theo do tác giả đề xuất:

  • Tiếp tục bố trí lặp lại thí nghiệm trong ít nhất một năm canh tác tiếp theo để kiểm chứng tính ổn định của các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất.
  • Bổ sung thêm các công thức thí nghiệm có mức bón NPK cao hơn mức của công thức 5 nhằm xác định chính xác liều lượng phân bón tối ưu tuyệt đối cho giống dong riềng DR1.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị thực tiễn và học thuật phục vụ các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Trồng trọt: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp thiết kế khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) cho cây có củ, thang điểm điều tra dịch hại đồng ruộng và kỹ thuật sử dụng phần mềm IRRISTAT 5.0 để phân tích phương sai.
  • Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp và khuyến nông: Bảng hạch toán chi phí vật tư phân bón (Urê, supe lân, Kali clorua, phân vi sinh), định mức công lao động và doanh thu thực tế là cơ sở trực tiếp để xây dựng quy trình hướng dẫn canh tác cho người trồng dong riềng tại vùng trung du và miền núi phía Bắc.
  • Các nghiên cứu tiếp theo về giống DR1: Số liệu giải phẫu thân củ và chỉ tiêu hình thái học chi tiết (chiều dài, đường kính củ, khối lượng khóm) cung cấp dữ liệu nền tảng phục vụ công tác so sánh, đánh giá giống.

Câu hỏi thường gặp

Giống dong riềng DR1 đưa vào nghiên cứu có nguồn gốc pháp lý và đặc điểm sinh học như thế nào?

Giống dong riềng DR1 được Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép sản xuất thử tại các tỉnh phía Bắc theo Quyết định số 608/QĐ-TT-CLT ngày 14/12/2010. Giống có thời gian sinh trưởng 250 – 280 ngày, chiều cao trung bình 165 – 185 cm, khả năng chống đổ tốt, củ nạc ruột trắng, năng suất củ tươi đạt 45 – 60 tấn/ha và hàm lượng tinh bột đạt từ 13,36% đến 16,4%.

Vì sao công thức 5 (250N : 140P₂O₅ : 250K₂O) đạt năng suất thực thu và lợi nhuận cao nhất trong thí nghiệm?

Ở công thức 5, cây dong riềng DR1 đạt các chỉ số cấu thành năng suất vượt trội: khối lượng củ/khóm đạt 2,34 kg; chiều dài củ đạt 18,50 cm; đường kính củ đạt 4,57 cm; số lá đạt 13,1 lá. Các chỉ số này giúp công thức 5 đạt năng suất thực thu 44,01 tấn/ha (vượt đối chứng CT3 5,2 tấn/ha). Mặc dù tổng chi phí phân bón cao nhất (30,804 triệu đồng/ha), chênh lệch sản lượng lớn đã mang lại doanh thu 52,812 triệu đồng/ha và lãi thuần 22,008 triệu đồng/ha, cao nhất trong 5 công thức.

Diễn biến thời tiết năm 2013 tại Thái Nguyên đã ảnh hưởng như thế nào đến quá trình sinh trưởng của cây dong riềng?

Nhiệt độ tháng 2 xuống thấp (19,3°C) kết hợp lượng mưa nhỏ (28,9 mm) khiến thời gian từ trồng đến mọc mầm kéo dài (21 – 22 ngày) và đòi hỏi phải tưới nước bổ sung. Giai đoạn tháng 7 có lượng mưa đột biến lên đến 974,1 mm gây nguy cơ ngập úng cục bộ trên đất thí nghiệm. Giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 12 có nhiệt độ giảm dần (26,4 xuống 15,0°C) thuận lợi cho quá trình chuyển hóa và tích lũy tinh bột từ thân lá về thân củ.

Mức bón phân khoáng NPK tăng dần có tác động như thế nào đến tình hình sâu hại và tính chống đổ của cây?

Việc tăng lượng bón NPK khiến mức độ gây hại của sâu ăn lá gia tăng từ điểm 3 (ở các công thức 1, 2 và đối chứng 3) lên điểm 5 (ở công thức 4 và 5) do bón nhiều đạm làm thân lá phát triển tươi tốt. Tuy nhiên, khả năng chống đổ của tất cả 5 công thức đều đạt điểm 1 (rất tốt, không đổ ngã) nhờ rễ củ bám chắc và hàm lượng kali được bổ sung tương ứng giúp thân cây cứng cáp.

Thang đo và phần mềm nào được tác giả sử dụng để xử lý số liệu thí nghiệm?

Khóa luận sử dụng các thang điểm đánh giá nông học 1 – 9 theo quy định của Viện Tài nguyên Di truyền Thực vật Quốc tế, Trung tâm Khoai tây Quốc tế (CIP) và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có củ. Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê phương sai ANOVA và kiểm định sai khác có ý nghĩa LSD ở mức xác suất 95% (P = 0,05) bằng phần mềm IRRISTAT phiên bản 5.0.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Hà Chí Bảo đã thực nghiệm đánh giá ảnh hưởng của 5 tổ hợp phân bón NPK đến sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của giống dong riềng DR1 tại Thái Nguyên trong năm 2013. Kết quả khẳng định công thức 5 (250 kg N : 140 kg P₂O₅ : 250 kg K₂O/ha kết hợp 3 tấn phân vi sinh/ha) mang lại năng suất thực thu cao nhất (44,01 tấn/ha) và lãi thuần vượt trội (22,008 triệu đồng/ha). Cây trồng duy trì khả năng chống đổ rất tốt ở tất cả các công thức, dù mức bón đạm cao làm gia tăng nhẹ tỷ lệ sâu ăn lá. Công trình là căn cứ kỹ thuật trực tiếp để bổ sung quy trình bón phân thâm canh cho giống DR1 tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc.