Kết quả so sánh năng suất các giống lạc vụ đông xuân tại Tam Xuân 1, Núi Thành

Nghiên cứu so sánh năng suất các giống lạc vụ đông xuân tại Quảng Nam. Cung cấp số liệu chi tiết giúp lựa chọn giống lạc cho hiệu quả kinh tế cao.

Trường đại học

Đại học Quảng Nam

Chuyên ngành

Lý – Hóa – Sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

2015

57
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu so sánh năng suất giống lạc vụ đông xuân tại Quảng Nam

Nghiên cứu so sánh năng suất giống lạc vụ đông xuân tại Quảng Nam là một đề tài quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp địa phương. Lạc là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế nông thôn. Việc nghiên cứu các giống lạc khác nhau giúp nông dân lựa chọn giống phù hợp nhất để tối ưu hóa năng suất. Tại xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, điều kiện khí hậu và đất đai rất thuận lợi cho canh tác lạc. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp thông tin khoa học về hiệu suất các giống lạc, từ đó giúp cộng đồng nông dân có những quyết định sản xuất chính xác và hiệu quả hơn.

1.1. Ý nghĩa của việc so sánh năng suất giống lạc

Việc so sánh năng suất các giống lạc khác nhau cung cấp dữ liệu khoa học quý giá cho sản xuất nông nghiệp. Năng suất lý thuyếtnăng suất thực thu của mỗi giống có sự khác biệt đáng kể. Thông qua nghiên cứu này, người nông dân có thể hiểu rõ hơn về khả năng sinh trưởng của từng giống trong điều kiện khí hậu địa phương. Việc lựa chọn giống lạc phù hợp không chỉ giúp tăng năng suất mà còn giảm chi phí sản xuất và rủi ro kinh tế.

1.2. Bối cảnh nông nghiệp Quảng Nam

Quảng Nam có điều kiện khí hậu lý tưởng cho canh tác lạc, đặc biệt là vụ đông xuân. Lạc đã trở thành một trong những cây trồng chủ lực của tỉnh, góp phần quan trọng vào kinh tế nông thôn. Sản xuất lạc tại Quảng Nam ngày càng áp dụng công nghệ hiện đại, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Các nông dân địa phương cần những thông tin cập nhật về các giống lạc mới để cạnh tranh hiệu quả trên thị trường.

II. Các giống lạc được nghiên cứu và đặc điểm hình thái học

Nghiên cứu so sánh giống lạc vụ đông xuân tại xã Tam Xuân 1 bao gồm nhiều giống lạc khác nhau với các đặc điểm hình thái học riêng biệt. Mỗi giống có thời gian sinh trưởng khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến năng suất cuối cùng. Các yếu tố như chiều cao cây, chiều dài cành cấp 1, tổng số cành được theo dõi chi tiết trong suốt mùa vụ. Khối lượng 100 quả tươi cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng giống. Dữ liệu về các đặc điểm hình thái này giúp làm rõ sự khác biệt giữa các giống và mối quan hệ với năng suất thực thu tươi.

2.1. Đặc điểm hình thái của các giống lạc

Các giống lạc tham gia thí nghiệm có chiều cao cây từ 25-45 cm và tổng số cành/cây khác nhau. Số cành cấp 1số cành cấp 2 ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cá thể. Một số giống có thân và cành phát triển mạnh mẽ, trong khi những giống khác lại có xu hướng tạo quả chắc nhiều hơn. Khối lượng 100 quả tươi của các giống dao động trong khoảng nhất định, phản ánh chất lượng và tiềm năng năng suất.

2.2. Thời gian sinh trưởng và phát triển

Thời gian sinh trưởng của các giống lạc trong vụ đông xuân dao động từ 100-130 ngày. Giai đoạn phát triển từ khi mọc đến khi ra hoa là rất quan trọng, quyết định tổng số quả tạo thành. Động thái tăng trưởng chiều cao cây diễn ra từ từ trong những tuần đầu, sau đó tăng nhanh. Số quả 1 hạt, số quả 2 hạt, số quả 3 hạttỉ lệ quả chắc phụ thuộc vào độ dài thời gian sinh trưởng và điều kiện khí hậu.

III. Khả năng kháng sâu bệnh và yếu tố cấu thành năng suất

Khả năng kháng sâu bệnh là một tiêu chí quan trọng trong so sánh các giống lạc. Các giống lạc khác nhau có mức độ nhạy cảm khác nhau với bệnh thối đen cổ rễ, bệnh héo xanhgỉ sắt. Những giống lạckhả năng kháng bệnh tốt sẽ cho năng suất thực thu cao hơn vì không bị mất quả do bệnh hại. Các yếu tố cấu thành năng suất bao gồm số cây thực thu, tổng số quả, số quả chắc, tỉ lệ quả chắckhối lượng 100 quả tươi. Sự kết hợp của các yếu tố này tạo nên năng suất lý thuyếtnăng suất thực thu tươi cuối cùng của mỗi giống.

3.1. Các bệnh hại chính trên cây lạc

Bệnh thối đen cổ rễ là bệnh phổ biến gây hại lớn nhất đến năng suất lạc. Bệnh héo xanh xuất hiện trong điều kiện độ ẩm cao, đặc biệt là vào cuối vụ. Gỉ sắt hay Pánh rỉ lá là bệnh nấm làm giảm diện tích lá quang hợp, ảnh hưởng đến phát triển quả. Các giống lạc khác nhau có khả năng kháng bệnh không giống nhau, một số có tỉ lệ quả chắc cao hơn khi gặp bệnh hại.

3.2. Mối quan hệ giữa các yếu tố và năng suất

Năng suất lý thuyết được tính dựa trên số cây thực thu, tổng số quả, số quả chắckhối lượng 100 quả tươi. Năng suất thực thu tươi thường thấp hơn do tác động của sâu bệnh hại và các điều kiện bất lợi. Tỉ lệ quả chắc cao cho thấy giống đó có khả năng kháng bệnh tốt. Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng kể trong năng suất cá thể giữa các giống, từ đó cung cấp cơ sở chọn giống phù hợp.

IV. Kết luận và kiến nghị cho sản xuất lạc tại Quảng Nam

Kết quả nghiên cứu so sánh năng suất giống lạc vụ đông xuân tại xã Tam Xuân 1, Quảng Nam cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa các giống lạc về năng suất thực thu. Một số giống lạcnăng suất lý thuyết cao nhưng năng suất thực thu tươi lại thấp do tỉ lệ quả chắc không cao. Ngược lại, những giống lạc với khả năng kháng bệnh tốt mặc dù có số quả ít hơn nhưng vẫn cho năng suất thực thu cao. Những phát hiện này cung cấp thông tin quý báu cho nông dân lựa chọn giống lạc phù hợp nhất với điều kiện địa phương, từ đó tối ưu hóa sản xuất và lợi nhuận.

4.1. Giống lạc nên được ưu tiên trồng

Dựa trên kết quả năng suất thực thu tươikhả năng kháng sâu bệnh, một số giống lạc được khuyến cáo trồng rộng rãi ở Quảng Nam. Tỉ lệ quả chắc cao, khối lượng 100 quả tươi tốt và khả năng kháng bệnh mạnh là những tiêu chí lựa chọn chính. Năng suất thực thu ổn định hơn năng suất lý thuyết cho thấy giống đó thích ứng tốt với điều kiện khí hậu địa phương. Nông dân nên ưu tiên các giống lạc này để đảm bảo thu hoạch ổn định.

4.2. Kiến nghị cho canh tác lạc bền vững

Kiến nghị ứng dụng kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn sản xuất, từ việc chọn giống lạc phù hợp, bố trí vụ đông xuân hợp lý, đến áp dụng các biện pháp bảo vệ thực vật phòng chống sâu bệnh hại. Nên tiếp tục nghiên cứu so sánh các giống lạc mới để cập nhật thông tin về năng suấtchất lượng. Hỗ trợ nông dân tiếp cận công nghệ canh tác tiên tiến nhằm nâng cao năng suất lạc bền vững.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây lạc 1. Nguồn gốc và vị trí phân loại - Nguồn gốc: Lạc là một loại cây thực phẩm ngắn ngày thuộc họ đậu có nguồn gốc tại Nam Mỹ. Vào thời kỳ phát hiện châu Mỹ, cùng với sự xâm nhập của châu Âu vào lục địa mới mới, người ta mới biết đến cây lạc.

Nguồn gốc cây lạc ở Nam Mỹ được khẳng định khi SKiê (E.1877) tìm thấy lạc trong ngôi mộ cổ An Côn ở bờ biển gần LiMa, thủ đô PêRu. Người ta đã phát hiện ở đây nhiều ngôi mộ chứa những xác ướp đặt ngồi, xung quanh là những vại đất nung chứa nhiều loại thực phẩm khác nhau, còn được bảo vệ tốt. Trong đó có nhiều vại đựng quả lạc. Những mẫu vật về lạc phát hiện ở An Côn có liên quan đến văn hóa trước An Côn được xác định vào khoảng 750 - 500 năm trước công nguyên.

Theo tài liệu của Ăngghen thì lạc tìm thấy ở (Las Haldas) thuộc thời kỳ đồ gốm cách đây khoảng 3800 năm [9]. Cây lạc đã du nhập vào Việt Nam khi nào thì đến nay vẫn chưa xác định được, nhưng khi tìm hiểu người ta thấy có một só điểm nổi bậc sau. Về địa lý: nước ta nằm gần hai Trung tâm của cây lạc, đặc biệt là Indonexia, nơi có nhiều mối liên hệ như lịch sử trồng lúa, trồng dừa, trồng tre…Vì vậy có lẽ lạc từ nước này vào Việt Nam, đồng thời cũng có thể từ Trung Quốc [5]. - Tên khoa học: Cây lạc có tên khoa học là Arachis hypogaea.

- Tên Việt Nam: Lạc, đậu phộng, đậu phụng. - Vị trí phân loại: + Giới (regirum): Plantae + Bộ (ordo): Fabales + Họ (familia): Fabaceae + Phân họ (subfamilia): Faboideae + Tông (tribus): Aeschynomeneae + Chi (genus): Arachis + Loài (species): A. Đặc điểm cơ quan sinh dưỡng  Rễ Hình 1. Rễ lạc Khi hạt lạc nảy mầm thì phôi rễ phát triển trước và chui ra khỏi vỏ hạt sớm nhất.

Phôi rễ có gỗ thứ cấp nên lớn dần và trở thành rễ chính, trên rễ chính phát sinh nhiều rễ phụ thứ cấp và tạo thành mạng rễ phân bố chủ yếu ở lớp đất mặt từ 0 – 30 cm [5]. Sự phát triển của hệ rễ ở thời kỳ đầu rất nhanh rồi chậm dần vào các kỳ cuối. Trong điều kiện sản xuất của Việt Nam, khi có đủ độ ẩm thích hợp và đất tơi xốp thì sau 3 - 5 ngày trong đất rễ chính đã dài tới 3 - 6 cm. Sau 10 ngày dài tới 8 - 10 cm, đồng thời rễ phụ cấp 1 đã hình thành, chiều dài rễ đã dài tới 4 - 5 cm, số lượng chừng hơn 10 rễ [5].

Sau một tháng, rễ chính đã ăn sâu có chiều dài bằng độ dày tầng đất mặt tơi xốp. Rễ cấp 1 có 18 - 20 cm. Hệ rễ phụ đã có nhiều cấp (2, 3, 4) tạo thành mạng rễ, chúng phát triển mạnh theo chiều ngang, ở thời kỳ đầu gần như vuông góc với rễ chính. Vào cuối kỳ sinh trưởng rễ phụ thứ cấp có xu hướng phát triển theo chiều sâu.

Rễ khi mới phát triển có màu trắng, các rễ phát triển sớm khi được 45 - 50 ngày chuyển màu vàng nhạt sau đó chuyển nâu. Thời kỳ cây làm quả các rễ thứ cấp phát triển nhiều kể cả trên đoạn thân cành sát gốc [5]. Sự phát triển của bộ rễ phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố ngoại cảnh, chế độ canh tác, lượng phân bón. Khi đất tơi xốp, bón đủ lân, vôi rễ phát triển mạnh.

Là cây họ đậu nên rễ lạc có khả năng cố định nito khí quyển do vi khuẩn Rhizobium sống cộng sinh. Chính vì vậy mà cây lạc tự đáp ứng được phần nào yêu 4 cầu sử dụng đạm. Sau khi rễ ăn sâu vào đất, chúng gặp vi khuẩn Rhizobium, rễ tiết ra men polygalactoronaza hấp dẫn vi khuẩn. Vi khuẩn xâm nhập qua màng tế bào rễ và sinh sản rất nhanh trong các tế bào rễ.

Khi còn non vi khuẩn có dạng hình que, về sau có hình gậy, lúc này chúng hoạt động mạnh xâm nhập vào tế bào với tốc độ 5 - 8 µm/giờ. Quan hệ với cây lúc này là quan hệ ký sinh, vi khuẩn không chỉ cư trú sinh sản mà còn lấy dinh dưỡng gồm đạm và gluxit từ rễ, đồng thời làm hạn chế hoạt động của bộ rễ ở thời kỳ mới phát triển [5]. Thời kỳ phát triển bộ rễ hoàn chỉnh chính là thời kỳ cây con (cây có 3 lá thật). Thời kỳ này có vị trí rất lớn trong việc hình thành năng suất lạc, vì vậy sự phát triển của bộ rễ tốt sẽ là cơ sở cho sự phát triển mầm cành, mầm hoa sớm [5].

 Thân - Dạng thân lạc: Thân lạc được sinh ra từ trục phôi thường mọc thẳng. Thân lạc có hai đoạn: Đoạn dưới lá mầm (cổ rễ) và đoạn trên lá mầm, đoạn dưới lá mầm dài hay ngắn tùy thuộc vào độ sâu lấp hạt. Nếu lấp hạt quá sâu thì đoạn thân này dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao phía trên. Chiều cao tối đa của các giống lạc phổ biến ở Việt Nam là 65 cm.

Các đốt gốc và sát thân ngắn, to; các đốt trên dài và nhỏ dần. Hình dạng của cây lạc được cấu trúc do thân và cành của các nhóm giống cũng khác nhau. Theo Bunting có 3 dạng: + Lạc đứng: Thân và cành đều thẳng, góc phân cành hẹp. + Lạc bò: Thân đứng, cành bò lan, góc độ phân cành lớn.

+ Lạc trung gian: Nửa đứng, nửa bò. - Màu sắc thân: Hầu hết các giống có thân xanh hoặc phớt tím. Một số giống khác có màu tím sẫm. Trên thân có phủ một lớp lông tơ trắng, mức độ nhiều hay ít tùy thuộc vào giống lạc.

Các giống có lông dày thường ít mẫn cảm với một số loại sâu [5]. 5  Cành lạc Hình 1. Thân và cành - Cành cấp 1: Cành cấp 1 phát sinh từ các đốt thứ 1 đến đốt thứ 6 của thân chính, tương đương 7 cành, nhưng thường các cành ở đốt thứ 1 - 4 mới cho quả chắc. Khi cây lạc có từ 2 - 3 lá thật thì tại hai nách lá mầm hai mầm cành xuất hiện, đây là cành cấp 1 đầu tiên, cặp cành này gọi là cặp cành cho năng suất.

Trong điều kiện thuận lợi khi thân chính có 4 - 5 lá thật thì tại các đốt gốc của hai cành cấp 1 xuất hiện các mầm cành cấp 2, đồng thời trên thân tại các nách lá thật thứ 1, thứ 2, mầm cành cấp 1 thứ 3, thứ 4 phát triển [5]. - Cành cấp 2: Cành cấp 2 chỉ phát sinh ở đốt đầu tiên của hai cành cấp 1 thứ nhất nên tối đa sẽ có bốn cành cấp 2 trên một cây lạc. Các cành cấp 2 cũng góp phần tạo năng suất nên số lượng cành cấp 2 càng nhiều thì số lượng hoa hữu hiệu càng cao, năng suất cao. Khi gặp tác động xấu của ngoại cảnh, số lượng cành cấp 2 sẽ ít hoặc không có [5].

Tổng số cành trên cây đạt 11 cành là tối đa, song các cành cho quả chắc chỉ có ở năm cành cấp 1 và bốn cành cấp 2. Vì vậy sự xuất hiện đủ 9 cành ở phần gốc thân sớm và các cành sinh tưởng khỏe, mập sẽ là cơ sở cho năng suất cao. Cành cấp 1 thứ 6 trở đi không cho quả chắc [5]. Lá lạc Lá lạc thuộc lá kép lông chim một lần, mỗi lá có 4 lá chét.

Cuống lá dài từ 4 - 9 cm. Trên cuống lá và hai mặt phiến lá đều có lông, màu sắc lá từ xanh đậm đến xanh nhạt tùy giống [5]. Khi bất thuận, thiếu nước và dinh dưỡng thì tốc độ ra lá chậm hơn rất nhiều. Số lá trên thân thường đạt từ 27 - 28 lá nhưng khi trồng muộn thời vụ khác nhau thì số lá sẽ khác nhau.

Tổng số lá trên cây tăng dần từ 21 ngày sau khi gieo đối với tất cả các giống, số lá cực đại khoảng 93 - 112 lá ở dạng thân đứng. Diện tích lá và lượng chất khô tăng đều đặn từ giai đoạn có 3 lá thật đến khi có hình thành tia quả [5].  Hoa lạc Hình 1. Hoa lạc Hoa lạc là hoa lưỡng tính nên có đầy đủ các thành phần: Đài, cánh, lá bắc, bộ nhị và nhụy.

Hoa phát triển thành cụm hoa chùm, mỗi chùm gồm 2 - 7 hoa, có khi tới 15 hoa, các hoa trong chùm thường phát triển không đều. Hoa có cấu tạo rất 7 điển hình của họ Cánh Bướm, hoa mẫu có năm cấu tạo đối xứng hai bên. Hoa gồm 5 cánh hình cánh bướm không đều nhau chia làm 3 loại: Một cánh cờ to nhất màu vàng ở phía ngoài cùng, trên cánh có nhiều sọc màu nâu đỏ chạy dọc theo gần hết cánh hoặc hết cánh tùy giống; cánh hai bên màu vàng nằm phía trong cánh cờ, chiều rộng chỉ bằng 1/2 cánh cờ; cánh còn lại nằm sát với nhị và nhụy có kích thước nhỏ, hầu như không màu hợp với nhau tạo thành cánh thìa, đầu cánh mỏ chim ôm lấy nhị và nhụy. Đài hoa gồm 5 mảnh luôn luôn tạo thành ống dài, phía trên chia thành 5 lá đài, chiều dài ống đài từ 3 - 6 mm tùy giống và thường ngắn hơn ở các hoa ra muộn.

Ống đài có màu vàng xanh phía trên mang cánh hoa. Nhụy hoa gồm 10 cái đã thoái hóa 2 còn lại 8 cái dài ngắn xen kẽ nhau, phía đầu phát triển thành bao phấn. Trong bốn nhị có bao phấn hình bầu dục có ba nhị mang hai bao phấn, một nhị mang một bao phấn; bốn nhị còn lại ngắn hơn chỉ mang một bao phấn hình tròn nhỏ kém phát dục. Cuống của 8 nhị kết lại thành ống nhị.

Ống nhị tài với ống đài một góc thay đổi tùy loại giống. Các hạt phấn rời màu vàng dễ dính vào đầu nhụy. Nhụy gồm có núm nhụy, vòi nhụy và bầu hoa, núm nhụy vượt lên trên nhị. Bầu của hoa lạc là loại bầu thượng nằm ở gốc ống đài có kích thước từ 0,5 - 1,5 mm [5].

Quả và hạt lạc Quả lạc gồm hai bộ phận là bầu hoa và tia quả. Tia quả do mô phân sinh nằm ở gốc bầu hoa hình thành. Khi bắt đầu phát triển các tế bào của mô phân sinh phân chia mạnh làm tia dài ra đưa bầu hoa vào đất. Chiều dài của tia từ 4 - 16 cm, do vậy đối với các giống lạc đứng cây, các hoa ra ở phân giữa thân cành trở nên ít có 8 điều kiện hình thành quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ