MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bệnh Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) hay còn biết đến với tên gọi là bệnh hen phức hợp trên gà là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Vi khuẩn gây bệnh Ornithobacterium rhinotracheale là vi khuẩn Gram âm. Tại Việt Nam ORT đã và đang gây ra các tổn thất kinh tế rất lớn trên gà do làm tăng tỷ lệ chết, tỷ lệ loại thải, giảm đẻ hoặc giảm sinh trƣởng.
Hiện ORT đang làm đau đầu các cán bộ kỹ thuật trang trại có trình độ chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm nhất. Hiện nay, tại trang trại gà xã Xuân Trƣờng, bệnh ORT đã xuất hiện, là một bệnh mới cấp tính thƣờng gây ra hiện tƣợng nhiễm trùng đƣờng hô hấp rất nặng ở gà và gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngƣời chăn nuôi gia cầm. Theo dõi tình hình bệnh và thử nghiệm các phác đồ điều trị phù hợp là rất cần thiết. Xuất phát từ tình hình thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tình hình bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên đàn gà th t th ng phẩm và thử nghiệm một số phác đồ điều tr tại trại gà xã Xuân Tr ờng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá” nhằm đƣa ra những biện pháp phòng trị bệnh hợp lý, giảm thiểu đƣợc thiệt hại cho ngƣời chăn nuôi.
Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Khảo sát tình hình mắc bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên đàn gà thịt thƣơng phẩm tại trại gà xã Xuân Trƣờng – Thọ Xuân. - Đánh giá hiệu quả điều trị của hai phác đồ điều trị bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên đàn gà thịt thƣơng phẩm. Yêu cầu cần đạt - Khảo sát đƣợc tỷ lệ gà mắc bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên đàn gà thịt thƣơng phẩm tại trại gà xã Xuân Trƣờng – Thọ Xuân.
1 - Xác định đƣợc hiệu quả điều trị của từng phác đồ một cách trung thực khách quan. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả theo dõi về tình hình bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên đàn gà thịt thƣơng phẩm và xác định đƣợc phác đồ điều trị hiệu quả cao có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác học tập và nghiên cứu trong lĩnh vực chăn nuôi - thú y. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả về tình hình bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên đàn gà thịt thƣơng phẩm tại trại gà xã Xuân Trƣờng – Thọ Xuân.
Đƣa ra phác đồ điều trị hiệu quả phần nào giúp cho chăn nuôi gà đẻ phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Sơ lƣợc về cấu tạo cơ quan hô hấp của gà Gia cầm có nhu cầu oxy cao hơn rất nhiều so với gia súc, do đó đặc điểm giải phẫu - sinh lý của bộ máy hô hấp rất đặc biệt, đảm bảo cƣờng độ trao đổi khí cao trong quá trình hô hấp. Cơ hoành không phát triển, hai lá phổi nhỏ, đàn hồi kém, lại nằm kẹp vào các xƣơng sƣờn nên hệ hô hấp đƣợc bổ sung thêm hệ thống túi khí.
Túi khí có cấu trúc túi kín (giống nhƣ bóng bay) có màng mỏng do thành các phế quản chính và phế quản nhánh phình ra mà thành. Theo chức năng, các túi khí đƣợc chia thành túi khí hít vào (chứa đầy khí hít vào) và túi khí thở ra (chứa đầy khí thở ra). Gia cầm có 9 túi khí gồm 4 cặp nằm đối xứng nhau và một túi lẻ. Các cặp túi hít vào gồm cặp bụng và cặp ngực phía sau.
Các túi khí to nhất là những phần tiếp theo của các phế quản chính. Túi bên phải lớn hơn túi bên trái. Cả hai túi có bọc tịt (túi thừa) kéo vào tới xƣơng đùi, xƣơng chậu và xƣơng thắt lƣng - xƣơng cùng, có thể nối cả với các xoang của những xƣơng này. Túi khí ngực sau nằm ở phần sau xoang ngực và kéo dài tới gan.
Túi khí ngực trƣớc nằm ở phần bên của xoang ngực, d ƣới phổi, và kéo dài tới xƣơng sƣờn cuối cùng. Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống cổ thứ 3 - 4, nằm trên khí quản và thực quản. Theo đƣờng đi, các túi khí này tạo ra thêm các bọc, toả vào các đốt sống cổ, ngực và xƣơng sƣờn. Túi khí lẻ giữa xƣơng đòn nối với các túi khí cổ.
Nhờ hai ống túi này nối với hai lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào hai xƣơng vai, cặp thứ hai đi vào khoảng trống giữa xƣơng quạ và xƣơng sống, cặp thứ ba vào giữa các cơ và vai ngực. Phần giữa lẻ của túi giữa xƣơng đòn nằm giữa xƣơng ngực và tim. Dung tích tất cả các túi khí của gà là 130 - 150 cm3, lớn hơn thể tích của phổi 10 - 12 lần. Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hoà nhiệt của cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi bị quá nóng hoặc quá lạnh.
Nếu tách hệ thống túi khí khỏi quá 3 trình hô hấp của gia cầm thì khi cơ làm việc nhiều, thân nhiệt sẽ tăng lên quá mức bình thƣờng. Nằm giữa các cơ quan bên trong và dƣới da, các túi khí đồng thời làm giảm khối lƣợng cơ thể gia cầm. Thêm nữa, sự phế hoá các xƣơng cũng có ý nghĩa về mặt này. Ở thuỷ cầm, nhờ có các túi khí làm cho không những khối lƣợng riêng của cơ thể giảm mà quá trình trao đổi khí cũng kéo dài hơn.
Vì vậy vịt có thể lặn dƣới nƣớc tới 15 phút liền. Sơ đồ bộ máy hô hấp của gia cầm. 1- Túi giữa xƣơng đòn; 2 - Lối vào xƣơng vai; 3 - Túi cổ; 4 - Túi ngực trƣớc; 5 -Túi ngực sau; 6- Túi bụng; 7 - Phổi; 8 - Phế quản chính; 9 - Phế quản ngoài của túi bụng; 10 - Phế quản túi ngực sau; 11 - Phế quản túi bụng; Gia cầm hô hấp kép, đó là các đặc điểm điển hình của cơ quan hô hấp. Khi hít vào, không khí bên ngoài qua mũi để vào phổi, sau đó vào các túi khí bụng (túi khí hít vào), trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ nhất.
Khi thở ra, không khí từ các túi khí bụng và ngực sau, bị ép và đẩy ra qua phổi, trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ hai. 4 Nồng độ khí cacbonic ở không khí thở ra của gia cầm tƣơng đối lớn, ở vịt tới 4,9%, ở bồ câu 4,2%. Tần số hô hấp ở gia cầm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loài, giới tính, độ tuổi, khả năng sản xuất, trạng thái sinh lý, điều kiện nuôi dƣỡng và môi trƣờng (nhiệt độ, độ ẩm, thành phần khí trong không khí, áp suất khí quyển. Tần số hô hấp thay đổi trong ngày và đặc biệt trong các trạng thái bệnh lý khác nhau của cơ thể.
Dung tích thở của phổi gia cầm đƣợc bổ sung bằng dung tích các túi khí, cùng với phổi, tạo nên hệ thống hô hấp thống nhất. Dung tích thở của phổi và các túi khí đƣợc tính bằng tổng thể tích không khí hô hấp, bổ sung và dự trữ. Ở gà dung tích này bằng 140 - 170cm3, ở vịt 300 - 315cm3. Các thể tích bổ sung và dự trữ của dung tích ở trong thực tế không đo đƣợc.
Không xác định đƣợc cả thể tích không khí lƣu lại. Trao đổi khí giữa không khí và máu gia cầm bằng phƣơng thức khuyếch tán, quá trình này phụ thuộc vào áp suất riêng phần của các khí có trong không khí và trong máu gia cầm. Trong khí quyển hoặc trong những chuồng nuôi thông thoáng tốt thƣờng có: O2 20,94%; CO2 0,03%; nitơ và các khí trơ khác (acgon, heli, neon. Trong không khí thở ra của gia cầm có 13,5 - 14,5% oxi và 5 - 6,5% cacbonic.
Trong chăn nuôi gia cầm, việc tạo chuồng nuôi có độ thông thoáng lớn, tốc độ gió lƣu thông hợp lý nhằm cung cấp khí sạch, loại thải khí độc (CO2 , H2S…), bụi ra khỏi chuồng, có một ý nghĩa vô cùng to lớn. C sở khoa học của bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) 2. Phân loại ORT nằm trong họ rRNA-V cùng với Cythophaga - Flavobacterrium - Bacteroidesphylum và có mối quan hệ mật thiết với hai loại vi khuẩn khác gây bệnh trên gia cầm là Riemerella anatipestifer và Coenonia anatine. Trƣớc đây, vi 5 khuẩn này đƣợc biết đến với rất nhiều tên nhƣ: Pleomorphic Gram Negative Rod (PGNR), vi khuẩn dạng Pasteurella, trực khuẩn Gram âm đa hình dạng trƣớc khi có tên gọi Ornithobacterium rhinotracheale đƣợc sử dụng cho đến ngày hôm nay 2.
Hình thái cấu trúc của vi khuẩn và tính chất bắt màu ORT là một vi khuẩn Gram âm, đa hình thái, không có khả năng di động, dạng trực khuẩn, không hình thành nha bào. Trên môi trƣờng thạch, chúng thƣờng có dạng ngắn, trực khuẩn dạng dùi trống, với kích thƣớc đƣờng kính 0,2 – 0,9µm và dài 0. Đôi khi thấy vi khuẩn dạng hình que dài hay tạo thành chuỗi dài (Chin và Charlton, 2008)[5]. Trong môi trƣờng dạng lỏng, chúng rất dài có thể dài tới 15µm (Nguyễn Thị Lan và cs, 2014)[2] Hình 2.
ORT có tính đa hình. Nhuộm Gram vi khuẩn sau 48 giờ nuôi cấy 2. Tính chất nuôi cấy ORT sinh trƣởng trong điều kiện hiếu khí, hiếu khí tùy tiện và yếm khí tùy tiện. Điều kiện sinh trƣởng tối ƣu là là ở nhiệt độ 37°C, CO2 5%, trong thời gian nuôi cấy 24-72h; tuy nhiên chúng vẫn sinh trƣởng tốt ở nhiệt độ từ 30ºC đến 42ºC.
Vi khuẩn này sinh trƣởng mạnh trên môi trƣờng thạch máu có 5 – 10% máu cừu (có bổ sung 10µg/ml Gentamycine). Vì theo nghiên cứu vi khuẩnOrnithobacterium rhinotracheale kháng với kháng sinh Gentamycin và Polymycin B (P. Vandamme và cs., 1994)[9], vì vậy nên thêm 5 µg kháng sinh vào 1 ml môi trƣờng thạch máu (Chin và cs, 2008)[5] nhằm hạn chế sự phát triển của những vi khuẩn khác, đặc biệt là vào thời điểm sau khi nuôi cấy 24 giờ khuẩn lạc ORT rất nhỏ dễ bị vi khuẩn khác xâm lấn, nhất là E. ORT cũng 6 phát triển trên môi trƣờng thạch tryptose soy và môi trƣờng chocolate agar.
Vi khuẩn không sinh trƣởng trên các môi trƣờng MacConkey agar, Gassner agar, Drigalskil agarhay Simon’s citrate, Endo agar (Chin và Charlton, 2008)[5]. Sự phát triển của vi khuẩn trong các môi trƣờng dạng lỏng cần phải đƣợc lọc kỹ, nhƣ môi trƣờng BHB (Brain heart infusion broth), PB (Pasteurella broth), hay Todd Hewitt broth.