Khóa luận bệnh ORT gà thịt - Mai Văn Anh - ĐH Hồng Đức 2020

Tài liệu nghiên cứu Khảo sát tình hình bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn ornithobacterium rhinotracheale ort trên đàn gà, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học Hồng Đức

Chuyên ngành

Chăn nuôi - Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khoá luận tốt nghiệp

2020

52
34
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Sơ lược về cấu tạo cơ quan hô hấp của gà

2.2. Cơ sở khoa học của bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT)

2.2.1. Hình thái cấu trúc của vi khuẩn và tính chất bắt màu

2.2.2. Tính chất nuôi cấy

2.2.3. Đặc tính sinh hóa

2.2.4. Khả năng gây bệnh

2.2.5. Cấu trúc kháng nguyên và độc lực

2.2.6. Tính sinh miễn dịch của ORT

2.2.7. Sức đề kháng

2.2.8. Truyền nhiễm học

2.2.8.1. Loài mắc bệnh
2.2.8.2. Lứa tuổi mắc bệnh
2.2.8.3. Mùa vụ phát bệnh
2.2.8.4. Chất chứa mầm bệnh
2.2.8.5. Phương thức truyền lây

2.2.9. Triệu chứng, bệnh tích gà mắc ORT

2.2.9.1. Chẩn đoán lâm sàng
2.2.9.2. Chẩn đoán phòng thí nghiệm

2.2.10. Phòng và điều trị

2.2.10.1. Phòng bệnh
2.2.10.2. Cơ sở khoa học của thuốc sử dụng trong đề tài
2.2.10.2.1. Thuốc BIO-Amox LA
2.2.10.2.2. Thuốc Bio-Bromhexine

2.2.11. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.11.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.11.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

2.2.12. Tình hình chăn nuôi của cơ sở thực tập

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Vật liệu nghiên cứu

3.2. Phạm vi nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Thời gian, địa điểm

3.4.2. Phương pháp thu thập thông tin

3.4.3. Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.4.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

3.4.4.1. Các chỉ tiêu điều tra
3.4.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi điều trị
3.4.4.3. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

3.4.5. Phương pháp xử lí số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả một số chỉ tiêu điều tra bệnh ORT

4.2. Kết quả điều tra bệnh ORT

4.3. Kết quả thử nghiệm hai phác đồ điều trị

4.4. Một số chỉ tiêu về điều trị bệnh

4.5. Một số chỉ tiêu về hiệu quả điều trị bệnh

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1. Kết quả điều tra tình hình bệnh đường hô hấp phức hợp

5.2. Hiệu quả sử dụng hai loại thuốc kháng sinh điều trị bệnh ORT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh ORT và nghiên cứu

Tài liệu tập trung vào bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên gà thịt thương phẩm. Bệnh này gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho người chăn nuôi do làm tăng tỷ lệ chết, tỷ lệ loại thải, và giảm sinh trưởng. Nghiên cứu được thực hiện tại trại gà xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, nơi bệnh ORT đã xuất hiện và gây ảnh hưởng tiêu cực. Mục tiêu của nghiên cứu là khảo sát tình hình bệnh và thử nghiệm các phác đồ điều trị hiệu quả. Tài liệu cung cấp thông tin tổng quan về cấu tạo cơ quan hô hấp của gà, làm nền tảng cho việc tìm hiểu bệnh ORT. Hệ hô hấp đặc biệt của gia cầm, với hệ thống túi khí bổ sung cho phổi, khiến chúng dễ bị tổn thương bởi các bệnh hô hấp. Nghiên cứu cũng đề cập đến tính cấp thiết của việc tìm hiểu và kiểm soát bệnh ORT do tác động kinh tế của nó. Việc khảo sát tình hình bệnh và thử nghiệm các phác đồ điều trị được xem là cần thiết để giảm thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi.

II. Đặc điểm của vi khuẩn ORT và chẩn đoán

Tài liệu mô tả chi tiết về đặc điểm của vi khuẩn ORT, bao gồm hình thái, tính chất nuôi cấy, đặc tính sinh hóa, và khả năng gây bệnh. Vi khuẩn ORT là vi khuẩn Gram âm, đa hình thái, không di động, và không hình thành nha bào. Nó sinh trưởng tốt trên môi trường thạch máu có bổ sung Gentamycin, một kháng sinh mà ORT có khả năng kháng. Việc xác định ORT có thể được thực hiện thông qua các đặc tính sinh hóa như phản ứng Oxidase (+), Catalase (-), và β-galactosidase (+). Tài liệu cũng đề cập đến việc sử dụng các phương pháp chẩn đoán như xét nghiệm huyết thanh và định serotype. Việc sử dụng Boiled extract antigens (BEAs) và kháng huyết thanh đơn trong agar gel precipitation (GAP) giúp phân biệt các serotype khác nhau của ORT. Serotype A được xác định là phổ biến nhất ở gà. Thông tin này rất quan trọng cho việc phát triển các phương pháp chẩn đoán và vaccine phòng bệnh hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu và điều trị

Nghiên cứu được thực hiện tại trại gà xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, trên đàn gà thịt thương phẩm. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập thông tin về tình hình bệnh ORT, bố trí thí nghiệm để đánh giá hiệu quả của hai phác đồ điều trị, và theo dõi các chỉ tiêu như tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, và các chỉ tiêu điều trị khác. Tài liệu cũng đề cập đến cơ sở khoa học của các loại thuốc sử dụng trong nghiên cứu, bao gồm BIO-Amox LA và Bio-Bromhexine. Việc lựa chọn các loại thuốc này dựa trên đặc tính kháng khuẩn và tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh hô hấp. Mục tiêu của việc thử nghiệm các phác đồ điều trị là tìm ra phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho bệnh ORT trên gà thịt thương phẩm, từ đó giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi.

IV. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này mang lại giá trị thực tiễn cao cho ngành chăn nuôi gia cầm. Việc khảo sát tình hình bệnh ORT giúp nắm bắt được mức độ lây lan và tác động của bệnh tại địa phương. Kết quả thử nghiệm các phác đồ điều trị cung cấp thông tin quan trọng về hiệu quả của các loại thuốc kháng sinh và phương pháp điều trị bệnh ORT. Những thông tin này có thể được áp dụng trực tiếp vào thực tiễn chăn nuôi để kiểm soát và điều trị bệnh ORT, giảm thiểu thiệt hại kinh tế. Nghiên cứu cũng đóng góp vào việc nâng cao kiến thức về bệnh ORT và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo. Việc xác định serotype phổ biến của ORT tại địa phương cũng là một thông tin hữu ích cho việc phát triển vaccine phòng bệnh trong tương lai. Tài liệu này có thể được sử dụng như một nguồn tham khảo cho các cán bộ kỹ thuật, người chăn nuôi, và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chăn nuôi thú y.

11/12/2024
Khảo sát tình hình bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn ornithobacterium rhinotracheale ort trên đàn gà thịt thương phẩm và thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại trại gà xã xuân trường huyện thọ xuân

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bệnh Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) hay còn biết đến với tên gọi là bệnh hen phức hợp trên gà là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Vi khuẩn gây bệnh Ornithobacterium rhinotracheale là vi khuẩn Gram âm. Tại Việt Nam ORT đã và đang gây ra các tổn thất kinh tế rất lớn trên gà do làm tăng tỷ lệ chết, tỷ lệ loại thải, giảm đẻ hoặc giảm sinh trƣởng.

Hiện ORT đang làm đau đầu các cán bộ kỹ thuật trang trại có trình độ chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm nhất. Hiện nay, tại trang trại gà xã Xuân Trƣờng, bệnh ORT đã xuất hiện, là một bệnh mới cấp tính thƣờng gây ra hiện tƣợng nhiễm trùng đƣờng hô hấp rất nặng ở gà và gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngƣời chăn nuôi gia cầm. Theo dõi tình hình bệnh và thử nghiệm các phác đồ điều trị phù hợp là rất cần thiết. Xuất phát từ tình hình thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tình hình bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên đàn gà th t th ng phẩm và thử nghiệm một số phác đồ điều tr tại trại gà xã Xuân Tr ờng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá” nhằm đƣa ra những biện pháp phòng trị bệnh hợp lý, giảm thiểu đƣợc thiệt hại cho ngƣời chăn nuôi.

Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Khảo sát tình hình mắc bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên đàn gà thịt thƣơng phẩm tại trại gà xã Xuân Trƣờng – Thọ Xuân. - Đánh giá hiệu quả điều trị của hai phác đồ điều trị bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên đàn gà thịt thƣơng phẩm. Yêu cầu cần đạt - Khảo sát đƣợc tỷ lệ gà mắc bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên đàn gà thịt thƣơng phẩm tại trại gà xã Xuân Trƣờng – Thọ Xuân.

1 - Xác định đƣợc hiệu quả điều trị của từng phác đồ một cách trung thực khách quan. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả theo dõi về tình hình bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên đàn gà thịt thƣơng phẩm và xác định đƣợc phác đồ điều trị hiệu quả cao có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác học tập và nghiên cứu trong lĩnh vực chăn nuôi - thú y. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả về tình hình bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên đàn gà thịt thƣơng phẩm tại trại gà xã Xuân Trƣờng – Thọ Xuân.

Đƣa ra phác đồ điều trị hiệu quả phần nào giúp cho chăn nuôi gà đẻ phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. 2 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Sơ lƣợc về cấu tạo cơ quan hô hấp của gà Gia cầm có nhu cầu oxy cao hơn rất nhiều so với gia súc, do đó đặc điểm giải phẫu - sinh lý của bộ máy hô hấp rất đặc biệt, đảm bảo cƣờng độ trao đổi khí cao trong quá trình hô hấp. Cơ hoành không phát triển, hai lá phổi nhỏ, đàn hồi kém, lại nằm kẹp vào các xƣơng sƣờn nên hệ hô hấp đƣợc bổ sung thêm hệ thống túi khí.

Túi khí có cấu trúc túi kín (giống nhƣ bóng bay) có màng mỏng do thành các phế quản chính và phế quản nhánh phình ra mà thành. Theo chức năng, các túi khí đƣợc chia thành túi khí hít vào (chứa đầy khí hít vào) và túi khí thở ra (chứa đầy khí thở ra). Gia cầm có 9 túi khí gồm 4 cặp nằm đối xứng nhau và một túi lẻ. Các cặp túi hít vào gồm cặp bụng và cặp ngực phía sau.

Các túi khí to nhất là những phần tiếp theo của các phế quản chính. Túi bên phải lớn hơn túi bên trái. Cả hai túi có bọc tịt (túi thừa) kéo vào tới xƣơng đùi, xƣơng chậu và xƣơng thắt lƣng - xƣơng cùng, có thể nối cả với các xoang của những xƣơng này. Túi khí ngực sau nằm ở phần sau xoang ngực và kéo dài tới gan.

Túi khí ngực trƣớc nằm ở phần bên của xoang ngực, d ƣới phổi, và kéo dài tới xƣơng sƣờn cuối cùng. Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống cổ thứ 3 - 4, nằm trên khí quản và thực quản. Theo đƣờng đi, các túi khí này tạo ra thêm các bọc, toả vào các đốt sống cổ, ngực và xƣơng sƣờn. Túi khí lẻ giữa xƣơng đòn nối với các túi khí cổ.

Nhờ hai ống túi này nối với hai lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào hai xƣơng vai, cặp thứ hai đi vào khoảng trống giữa xƣơng quạ và xƣơng sống, cặp thứ ba vào giữa các cơ và vai ngực. Phần giữa lẻ của túi giữa xƣơng đòn nằm giữa xƣơng ngực và tim. Dung tích tất cả các túi khí của gà là 130 - 150 cm3, lớn hơn thể tích của phổi 10 - 12 lần. Các túi khí còn có vai trò trong việc điều hoà nhiệt của cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi bị quá nóng hoặc quá lạnh.

Nếu tách hệ thống túi khí khỏi quá 3 trình hô hấp của gia cầm thì khi cơ làm việc nhiều, thân nhiệt sẽ tăng lên quá mức bình thƣờng. Nằm giữa các cơ quan bên trong và dƣới da, các túi khí đồng thời làm giảm khối lƣợng cơ thể gia cầm. Thêm nữa, sự phế hoá các xƣơng cũng có ý nghĩa về mặt này. Ở thuỷ cầm, nhờ có các túi khí làm cho không những khối lƣợng riêng của cơ thể giảm mà quá trình trao đổi khí cũng kéo dài hơn.

Vì vậy vịt có thể lặn dƣới nƣớc tới 15 phút liền. Sơ đồ bộ máy hô hấp của gia cầm. 1- Túi giữa xƣơng đòn; 2 - Lối vào xƣơng vai; 3 - Túi cổ; 4 - Túi ngực trƣớc; 5 -Túi ngực sau; 6- Túi bụng; 7 - Phổi; 8 - Phế quản chính; 9 - Phế quản ngoài của túi bụng; 10 - Phế quản túi ngực sau; 11 - Phế quản túi bụng; Gia cầm hô hấp kép, đó là các đặc điểm điển hình của cơ quan hô hấp. Khi hít vào, không khí bên ngoài qua mũi để vào phổi, sau đó vào các túi khí bụng (túi khí hít vào), trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ nhất.

Khi thở ra, không khí từ các túi khí bụng và ngực sau, bị ép và đẩy ra qua phổi, trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ hai. 4 Nồng độ khí cacbonic ở không khí thở ra của gia cầm tƣơng đối lớn, ở vịt tới 4,9%, ở bồ câu 4,2%. Tần số hô hấp ở gia cầm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loài, giới tính, độ tuổi, khả năng sản xuất, trạng thái sinh lý, điều kiện nuôi dƣỡng và môi trƣờng (nhiệt độ, độ ẩm, thành phần khí trong không khí, áp suất khí quyển. Tần số hô hấp thay đổi trong ngày và đặc biệt trong các trạng thái bệnh lý khác nhau của cơ thể.

Dung tích thở của phổi gia cầm đƣợc bổ sung bằng dung tích các túi khí, cùng với phổi, tạo nên hệ thống hô hấp thống nhất. Dung tích thở của phổi và các túi khí đƣợc tính bằng tổng thể tích không khí hô hấp, bổ sung và dự trữ. Ở gà dung tích này bằng 140 - 170cm3, ở vịt 300 - 315cm3. Các thể tích bổ sung và dự trữ của dung tích ở trong thực tế không đo đƣợc.

Không xác định đƣợc cả thể tích không khí lƣu lại. Trao đổi khí giữa không khí và máu gia cầm bằng phƣơng thức khuyếch tán, quá trình này phụ thuộc vào áp suất riêng phần của các khí có trong không khí và trong máu gia cầm. Trong khí quyển hoặc trong những chuồng nuôi thông thoáng tốt thƣờng có: O2 20,94%; CO2 0,03%; nitơ và các khí trơ khác (acgon, heli, neon. Trong không khí thở ra của gia cầm có 13,5 - 14,5% oxi và 5 - 6,5% cacbonic.

Trong chăn nuôi gia cầm, việc tạo chuồng nuôi có độ thông thoáng lớn, tốc độ gió lƣu thông hợp lý nhằm cung cấp khí sạch, loại thải khí độc (CO2 , H2S…), bụi ra khỏi chuồng, có một ý nghĩa vô cùng to lớn. C sở khoa học của bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) 2. Phân loại ORT nằm trong họ rRNA-V cùng với Cythophaga - Flavobacterrium - Bacteroidesphylum và có mối quan hệ mật thiết với hai loại vi khuẩn khác gây bệnh trên gia cầm là Riemerella anatipestifer và Coenonia anatine. Trƣớc đây, vi 5 khuẩn này đƣợc biết đến với rất nhiều tên nhƣ: Pleomorphic Gram Negative Rod (PGNR), vi khuẩn dạng Pasteurella, trực khuẩn Gram âm đa hình dạng trƣớc khi có tên gọi Ornithobacterium rhinotracheale đƣợc sử dụng cho đến ngày hôm nay 2.

Hình thái cấu trúc của vi khuẩn và tính chất bắt màu ORT là một vi khuẩn Gram âm, đa hình thái, không có khả năng di động, dạng trực khuẩn, không hình thành nha bào. Trên môi trƣờng thạch, chúng thƣờng có dạng ngắn, trực khuẩn dạng dùi trống, với kích thƣớc đƣờng kính 0,2 – 0,9µm và dài 0. Đôi khi thấy vi khuẩn dạng hình que dài hay tạo thành chuỗi dài (Chin và Charlton, 2008)[5]. Trong môi trƣờng dạng lỏng, chúng rất dài có thể dài tới 15µm (Nguyễn Thị Lan và cs, 2014)[2] Hình 2.

ORT có tính đa hình. Nhuộm Gram vi khuẩn sau 48 giờ nuôi cấy 2. Tính chất nuôi cấy ORT sinh trƣởng trong điều kiện hiếu khí, hiếu khí tùy tiện và yếm khí tùy tiện. Điều kiện sinh trƣởng tối ƣu là là ở nhiệt độ 37°C, CO2 5%, trong thời gian nuôi cấy 24-72h; tuy nhiên chúng vẫn sinh trƣởng tốt ở nhiệt độ từ 30ºC đến 42ºC.

Vi khuẩn này sinh trƣởng mạnh trên môi trƣờng thạch máu có 5 – 10% máu cừu (có bổ sung 10µg/ml Gentamycine). Vì theo nghiên cứu vi khuẩnOrnithobacterium rhinotracheale kháng với kháng sinh Gentamycin và Polymycin B (P. Vandamme và cs., 1994)[9], vì vậy nên thêm 5 µg kháng sinh vào 1 ml môi trƣờng thạch máu (Chin và cs, 2008)[5] nhằm hạn chế sự phát triển của những vi khuẩn khác, đặc biệt là vào thời điểm sau khi nuôi cấy 24 giờ khuẩn lạc ORT rất nhỏ dễ bị vi khuẩn khác xâm lấn, nhất là E. ORT cũng 6 phát triển trên môi trƣờng thạch tryptose soy và môi trƣờng chocolate agar.

Vi khuẩn không sinh trƣởng trên các môi trƣờng MacConkey agar, Gassner agar, Drigalskil agarhay Simon’s citrate, Endo agar (Chin và Charlton, 2008)[5]. Sự phát triển của vi khuẩn trong các môi trƣờng dạng lỏng cần phải đƣợc lọc kỹ, nhƣ môi trƣờng BHB (Brain heart infusion broth), PB (Pasteurella broth), hay Todd Hewitt broth.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khảo sát tình hình bệnh suy giảm hô hấp do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) trên đàn gà thịt thương phẩm và thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại trại gà xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá" của tác giả Mai Văn Anh cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình bệnh suy giảm hô hấp ở gà thịt và những phương pháp điều trị hiệu quả. Nghiên cứu không chỉ giúp nâng cao nhận thức về ảnh hưởng của vi khuẩn ORT đối với sức khỏe đàn gà mà còn đưa ra các phác đồ điều trị khả thi, từ đó hỗ trợ người chăn nuôi cải thiện năng suất và sức khỏe cho đàn gia cầm.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chăn nuôi và thú y, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Đề cương nghiên cứu khoa học luận văn ngành chăn nuôi thú y, nơi trình bày khả năng tăng trọng của dê thịt, một khía cạnh quan trọng trong chăn nuôi. Bên cạnh đó, bài viết Luận văn giải pháp phát triển chăn nuôi bò thịt tại huyện Tân Lạc tỉnh Hòa Bình sẽ cung cấp thêm thông tin về các giải pháp phát triển bền vững trong ngành chăn nuôi. Cuối cùng, bài viết Luận văn nghiên cứu phát triển chăn nuôi dê trên địa bàn huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây cũng sẽ mang đến cho bạn những kiến thức bổ ích về chăn nuôi dê, một lĩnh vực có sự tương đồng với việc chăn nuôi gà thịt. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về ngành chăn nuôi tại Việt Nam.