Khóa luận: Quy trình kỹ thuật chăm sóc, phòng trị bệnh cho lợn tại trại Nguyễn Thế Anh, Phú Thọ

Khám phá quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh toàn diện cho đàn lợn tại trại Nguyễn Thế Anh. Bí quyết giúp đàn lợn khỏe mạnh, tăng trưởng tốt.

Chuyên ngành

Chăn nuôi Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019

65
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quy trình chăm sóc lợn tại trại Nguyễn Thế Anh

Trại lợn Nguyễn Thế Anh đóng tại xã Tề Lễ, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Đây là cơ sở chăn nuôi quy mô gia đình, chuyên sản xuất lợn giống và lợn thịt. Trại áp dụng quy trình kỹ thuật bài bản trong chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh cho đàn lợn nái và lợn con theo mẹ. Quy trình bao gồm các khâu: quản lý sinh sản lợn nái, chăm sóc lợn sơ sinh, chế độ dinh dưỡng theo từng giai đoạn phát triển, vệ sinh chuồng trại và lịch phòng bệnh nghiêm ngặt. Trại duy trì đàn lợn nái sinh sản với năng suất trung bình 10-12 con mỗi lứa. Hệ thống chuồng trại được thiết kế khoa học, phân chia khu vực rõ ràng gồm: khu đẻ, khu úm lợn con, khu nuôi lợn thịt và khu cách ly. Công tác vệ sinh sát trùng được thực hiện định kỳ, đảm bảo môi trường sống sạch sẽ cho đàn lợn. Quy trình này đã được nghiên cứu và đánh giá qua thời gian thực tập 6 tháng tại trại.

1.1. Vị trí địa lý và cơ sở vật chất trang trại

Trại lợn Nguyễn Thế Anh nằm tại xã Tề Lễ, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Vị trí thuận lợi về giao thông, cách xa khu dân cư đông đúc, giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm bệnh từ bên ngoài. Cơ sở vật chất bao gồm hệ thống chuồng trại kiên cố, được xây dựng theo tiêu chuẩn kỹ thuật. Khu đẻ có hệ thống sưởi ấm cho lợn con, máng ăn và hệ thống nước uống tự động. Khu úm lợn con được trang bị đèn sưởi, nền chuồng lót đệm giữ ẩm. Khu nuôi lợn thịt thoáng mát, đảm bảo mật độ phù hợp. Nhà kho chứa thức ăn và vật tư y tế được bố trí hợp lý, thuận tiện cho việc quản lý.

1.2. Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực trang trại

Trại lợn Nguyễn Thế Anh hoạt động theo mô hình trang trại gia đình với đội ngũ nhân viên kỹ thuật được đào tạo cơ bản. Ban quản lý trại bao gồm chủ trại và các công nhân phụ trách từng khu vực chăn nuôi. Công việc được phân công rõ ràng: chăm sóc lợn nái sinh sản, quản lý lợn con sơ sinh, vệ sinh chuồng trại và theo dõi sức khỏe đàn lợn. Nhân viên được hướng dẫn kỹ lưỡng về quy trình kỹ thuật, từ đỡ đẻ, mài nanh, bấm số tai cho đến tiêm phòng vắc xin. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu đảm bảo hiệu quả chăn nuôi cao và giảm thiểu rủi ro bệnh tật trong đàn.

II. Phân tích vấn đề chăm sóc và phòng bệnh lợn tại trại

Chăn nuôi lợn tại trại Nguyễn Thế Anh đối mặt với nhiều thách thức về quản lý sức khỏe đàn. Các bệnh thường gặp bao gồm: tiêu chảy ở lợn con, viêm phổi, viêm khớp và các bệnh truyền nhiễm như dịch tả, tai xanh, lở mồm long móng. Lợn con sơ sinh có sức đề kháng yếu, dễ mắc bệnh trong những ngày đầu đời. Thời tiết thay đổi thất thường tại Phú Thọ cũng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe đàn lợn, đặc biệt vào mùa đông lạnh và mùa hè nóng bức. Công tác vệ sinh sát trùng nếu không thực hiện đúng quy trình sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển. Bên cạnh đó, việc quản lý dinh dưỡng không hợp lý dẫn đến lợn còi cọc, chậm lớn. Các vấn đề về sinh sản ở lợn nái như khó đẻ, viêm tử cung, mất sữa cũng cần được quan tâm xử lý kịp thời để đảm bảo hiệu quả kinh tế.

2.1. Các bệnh thường gặp trên đàn lợn con và lợn nái

Đàn lợn con tại trại thường mắc các bệnh tiêu chảy do vi khuẩn E. coli, Salmonella hoặc ký sinh trùng cầu trùng. Bệnh viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma, virus PRRS gây tỷ lệ chết cao ở lợn úm. Viêm khớp ở lợn con do liên cầu khuẩn Streptococcus cần điều trị kháng sinh kịp thời. Lợn nái gặp vấn đề viêm vú, viêm tử cung sau đẻ, gây mất sữa và ảnh hưởng đến lợn con bú mẹ. Các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như dịch tả lợn, tai xanh (PRRS), lở mồm long móng (FMD) đe dọa toàn bộ đàn nếu không được phòng ngừa bằng vắc xin đúng lịch.

2.2. Thách thức trong quản lý dinh dưỡng và vệ sinh chuồng trại

Quản lý dinh dưỡng cho đàn lợn đòi hỏi sự chính xác về khẩu phần ăn theo từng giai đoạn. Lợn nái mang thai, lợn nái cho con bú và lợn thịt có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau. Việc cho ăn không đúng tiêu chuẩn dẫn đến lợn thiếu chất, giảm sức đề kháng. Vệ sinh chuồng trại là yếu tố then chốt trong phòng bệnh. Nếu không sát trùng định kỳ, mầm bệnh tích tụ trong nền chuồng, máng ăn và dụng cụ chăn nuôi. Thời tiết nồm ẩm tại Phú Thọ tạo điều kiện cho vi khuẩn, virus phát triển mạnh, đặc biệt nguy hiểm cho lợn con sơ sinh chưa được tiêm phòng đầy đủ.

III. Giải pháp kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh lợn

Trại Nguyễn Thế Anh áp dụng quy trình kỹ thuật toàn diện để chăm sóc và phòng bệnh cho đàn lợn. Về dinh dưỡng, lợn nái mang thai được cho ăn 2,5-3 kg thức ăn/ngày, tăng lên 4-5 kg/ngày khi cho con bú. Lợn con bắt đầu tập ăn từ ngày thứ 7 sau sinh, cai sữa lúc 28 ngày tuổi. Công tác vệ sinh sát trùng được thực hiện nghiêm ngặt: phun thuốc sát trùng toàn trại 2 lần/tuần, rửa sạch chuồng đẻ trước khi sử dụng, thay đệm lót hàng ngày. Lịch phòng bệnh được xây dựng khoa học: lợn nái tiêm vắc xin dịch tả, tai xanh, lở mồm long móng, chống khô thai theo đúng thời gian quy định. Lợn con được tiêm vắc xin dịch tả lúc 21 ngày tuổi, vắc xin viêm phổi Mycoplasma, virus Circo. Các thủ thuật kỹ thuật như đỡ đẻ, mài nanh, bấm số tai, cắt đuôi, tiêm sắt được thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn cho đàn lợn.

3.1. Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản và lợn con sơ sinh

Lợn nái trước khi đẻ được chuyển vào chuồng đẻ, vệ sinh thân thể và theo dõi dấu hiệu sinh nở. Khi lợn nái đẻ, nhân viên kỹ thuật thực hiện đỡ đẻ, lau khô lợn con, cắt dây rốn và sát trùng. Lợn con mới sinh được mài nanh, bấm số tai, cắt đuôi và cho uống thuốc phòng cầu trùng. Trong 3 ngày đầu, lợn con được tiêm sắt phòng thiếu máu. Lợn nái sau đẻ được tiêm kháng sinh và oxytocin liên tục 3 ngày để phòng viêm và kích thích sữa. Nhiệt độ chuồng úm được duy trì 30-32°C bằng đèn sưởi, giảm dần theo tuần tuổi. Lợn con cai sữa lúc 28 ngày với trọng lượng đạt 6-7 kg/con.

3.2. Lịch phòng bệnh và vệ sinh sát trùng tại trại

Lịch phòng bệnh tại trại được xây dựng chi tiết cho từng nhóm lợn. Lợn nái: tiêm vắc xin dịch tả (CS.F), lở mồm long móng (FMD), tai xanh (PRRS), chống khô thai (Pavo) trước khi phối giống 2-4 tuần. Tiêm nhắc lại vắc xin PRRS và Pavo trong thời kỳ mang thai. Lợn con: tiêm vắc xin dịch tả (SVF1) lúc 21 ngày tuổi, vắc xin viêm phổi (Myco) và virus Circo theo lịch. Công tác vệ sinh sát trùng: phun thuốc sát trùng nền chuồng, tường, dụng cụ 2 lần/tuần bằng dung dịch chuyên dụng. Chuồng đẻ được rửa sạch, phun sát trùng và để trống 3-5 ngày trước khi sử dụng lại. Máng ăn, máng uống được cọ rửa hàng ngày.

IV. Kết quả đạt được và ứng dụng thực tiễn tại trại

Sau 6 tháng áp dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh, trại Nguyễn Thế Anh đạt được nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ lợn con sống sau cai sữa đạt trên 95%, trọng lượng cai sữa trung bình 6,5 kg/con. Công tác đỡ đẻ được thực hiện an toàn 100%, không xảy ra tai biến. Các thủ thuật kỹ thuật như mài nanh, bấm số tai, thiến lợn đực đạt tỷ lệ thành công cao. Tỷ lệ mắc bệnh trên đàn lợn giảm đáng kể nhờ thực hiện đúng lịch tiêm phòng và vệ sinh sát trùng định kỳ. Các bệnh tiêu chảy, viêm phổi ở lợn con được phát hiện và điều trị kịp thời, giảm tỷ lệ chết. Kết quả cho thấy quy trình chăm sóc bài bản giúp nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm chi phí thuốc thú y và tăng năng suất sinh sản của đàn lợn nái. Đây là mô hình mẫu có thể áp dụng rộng rãi cho các trang trại quy mô nhỏ và vừa.

4.1. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn

Kết quả thực tế tại trại cho thấy hiệu quả rõ rệt của quy trình chăm sóc bài bản. Đàn lợn nái đạt năng suất sinh sản ổn định 10-12 con/lứa, tỷ lệ lợn con sống sau sinh trên 98%. Lợn con phát triển đồng đều, ít bị còi cọc nhờ được bú sữa mẹ đầy đủ và tập ăn sớm. Trọng lượng lợn thịt đạt tiêu chuẩn xuất chuồng sau 5-6 tháng nuôi. Công tác theo dõi sức khỏe hàng ngày giúp phát hiện sớm các dấu hiệu bệnh, xử lý kịp thời. Chi phí thức ăn được tối ưu hóa theo tiêu chuẩn ăn từng giai đoạn, giảm lãng phí và tăng hiệu quả chuyển đổi thức ăn.

4.2. Ứng dụng và nhân rộng mô hình chăn nuôi hiệu quả

Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh lợn tại trại Nguyễn Thế Anh là mô hình thực tiễn, có thể áp dụng cho các trang trại quy mô gia đình và quy mô nhỏ. Các yếu tố then chốt cần nhân rộng bao gồm: xây dựng lịch tiêm phòng vắc xin khoa học, thực hiện vệ sinh sát trùng định kỳ, quản lý dinh dưỡng theo từng giai đoạn phát triển và theo dõi sức khỏe đàn lợn hàng ngày. Mô hình này giúp nông dân giảm rủi ro dịch bệnh, nâng cao thu nhập và phát triển chăn nuôi bền vững. Các cơ quan khuyến nông có thể tham khảo để xây dựng hướng dẫn kỹ thuật cho bà con nông dân trong vùng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Khóa luận thực hiện quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại lợn nguyễn thế anh xã tề lễ huyện tam nông tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Chăn nuôi có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp nước ta. Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu đối với đời sống con người. Trong đó, chăn nuôi lợn đang trở thành yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế. Với mục tiêu phát triển kinh tế theo hướng đa ngành như hiện nay, chăn nuôi lợn đã trở thành một mũi nhọn trong cơ cấu ngành chăn nuôi nói riêng và phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa trong nông nghiệp nói chung.

Bên cạnh đó công tác vệ sinh là cơ sở, nền tảng của biện pháp phòng bệnh trong chăn nuôi. Khi môi trường sống bất lợi cho gia súc như chăm sóc nuôi dưỡng không tốt, dinh dưỡng kém, chuồng trại thiết kế không đúng quy chuẩn, chuồng trại không vệ sinh,… sẽ làm vật nuôi giảm sức đề kháng (miễn dịch) và dễ bị các tác nhân vi trùng, virus và ký sinh trùng xâm nhập tạo ra dịch bệnh. Để phòng bệnh ngoài biện pháp tạo môi trường sống tốt, giảm các yếu tố gây bất lợi cho thú nuôi, nâng cao được sức chống chịu và sự miễn dịch của thú nuôi, nhà chăn nuôi cũng cần phải giảm thiểu sự tiếp xúc các tác nhân gây bệnh đối với vật nuôi từ đó sẽ hạn chế được khả năng lan truyền của dịch bệnh. Việc chăm sóc nuôi dưỡng tốt và vệ sinh phòng bệnh là những yếu tố quan trọng hàng đầu giúp người chăn nuôi có thể giảm bớt thiệt hại kinh tế do dịch bệnh gây ra.

Dịch bệnh có thể lan truyền qua con đường tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp. Một vài dịch bệnh như viêm phổi do mycoplasma chủ yếu lan truyền do tiếp xúc trực tiếp từ con vật này sang con vật khác; còn virus Lở mồm long móng lây truyền trực tiếp từ con vật mang bệnh sang con vật khỏe hoặc gián 2 tiếp qua thức ăn nước uống, dụng cụ chăn nuôi, không khí, phương tiện vận chuyển,… hoặc gián tiếp từ người chăn nuôi và cán bộ thú y mang mầm bệnh truyền sang. Khi hiểu rõ tính chất lây lan của từng loại mầm bệnh chúng ta sẽ chủ động hơn trong công tác vệ sinh phòng dịch, đạt hiệu quả hơn.Làm vệ sinh và khử trùng là giải pháp khống chế dịch bệnh cách hiệu quả. Là một sinh viên ngành Chăn nuôi thú y, với mong muốn được rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, ứng dụng những kiến thức đã được học vào thực tiễn sản xuất, em tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp “Thực hiện quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại lợn Nguyễn Thế Anh, xã Tề Lễ, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ”.

Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích - Giúp sinh viên củng cố kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thông qua việc áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái và lợn con theo mẹ. - Có thể chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ. - Học tập kỹ năng quản lý trang trại chăn nuôi có hiệu quả.Yêu cầu - Đánh giá được tình hình chăn nuôi của trang trại chăn nuôi lợn.

- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn của trại - Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn của trại - Thành thạo các kỹ năng nuôi dưỡng, chăm sóc cho đàn lợn - Thành thạo các kỹ năng phòng bệnh cho đàn lợn của trại - Biết chẩn đoán bệnh cho lợn ốm và kê đơn, điều trị cho lợn bị bệnh. - Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Vị trí địa lý Vị trí địa lý -Tề Lễ là xã miền núi nằm ở phía Tây huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm huyện 17km, có vị trí địa lý tiếp giáp với nhiều xã trong và ngoài huyện.

+ Phía Đông giáp xã Thọ Văn – huyện Tam Nông + Phía Tây giáp xã Ngọc Đồng – huyện Yên Lập + Phía Nam giáp xã Sơn Hùng – huyện Thanh Sơn + Phía Bắc giáp xã Đồng Lương – huyện Cẩm Khê - Với diện tích tự nhiên là : 1735,15 ha, 1140 hộ với tổng số 4469 nhân khẩu được phân bố trên 09 khu dân cư. - Là địa bàn có điều kiện tự nhiên với nhiều núi, đồi, sông, suối, hồ, đập cùng với diện tích đất trồng cây nông nghiệp. Vì vậy, xã Tề Lễ có nhiều lợi thế về trồng cây lâm nghiệp, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản: + Đất nông nghiệp ; 756,8ha + Đất lâm nghiệp : 697,9 ha + Đất nuôi trồng thủy sản: 40,5 ha Kinh tế Vì có lợi thế về đất nông nghiệp, lâm nghiệp nên đã có nhiều tập thể và cá nhân mạnh dạn đầu tư vào chuyển dịch cơ cấu cây trồng , vật nuôi, trồng rừng và các loại cây trồng khác đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần tạo việc làm nông cao thu nhập cho người dân. 4 Quá trình thành lập Trại lợn Thế Anh nằm trên địa bàn của xã Tề Lễ, huyện Tam Nông ,tỉnh Phú Thọ.

Trại là trại tư nhân của gia đình và sử dụng cám của công ty TNHH DeHeus. Trại do ông Nguyễn Thế Anh là chủ trại và kĩ thuật của công ty chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động trong khu vực chăn nuôi của trại. Điều kiện giao thông Trang trại giáp với những trại có quy mô lớn như: trang trại chăn nuôi lợn của công ty CP,Daphaco,Minh Hiếu,…nên có đường giao thông rất thuận lợi cho việc đi lại, trao đổi giao thương. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức: gồm 3 nhóm + Nhóm quản lý: 01 chủ trại, 01 quản lý trại.

+ Nhóm cán bộ kỹ thuật, tài chính: 1 kỹ sư + Nhóm nhân viên: 5 công nhân, 2 sinh viên thực tập. Cơ sở vật chất của trang trại Trang trại nằm trên khu vực xã Tề Lễ, đường giao thông đã được nâng cấp bê tông hóa, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển. Trại lợn cách khu dân cư khoảng hơn 7 km. Trại có diện tích đất rộng 6 ha trong đó có: - Đất trồng cây ăn quả: 2,5 ha - Ao, hồ chứa nước và nuôi cá: 0,7ha - Đất xây dựng hệ thống xử lí nước thải: 0,5ha - Đất xây dựng khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại: 1ha - Đất xây dựng khu chăn nuôi:1,3ha Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng vào.

Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn 5 đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn. Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 160 nái cơ bản bao gồm: 1 chuồng đẻ (chuồng có 46 ô), 1 chuồng nái chửa (chuồng có 132 ô), 2 chuồng lợn thịt 1 chuồng cách li nhập hậu bị và một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc, kho cám. Trại gồm 4 khu chính: khu nhà ăn,ở cho công nhân, khu nhà để cám và kho thuốc, khu để dụng cụ chăn nuôi, khu chăn nuôi còn lại là vườn và ao hồ bao quanh trại. Trại có quy mô đàn là trên 158 đầu nái, 2 lợn đực và 30 lợn hậu bị để thay thế đàn và được phân ra thành các khu khác nhau cho mỗi loại lợn khác nhau, trang trại được xây dựng với 2 khu chuồng tách biệt nhau.

Khu chuồng nái chửa và nái đẻ cùng 1 khu trong đó chuồng nái chửa là nơi chăm sóc nuôi dưỡng những lợn nái đang mang thai. Chuồng đẻ là nơi chứa lợn sắp đẻ từ chuồng nái chửa chuyển xuống, nơi lợn nái thực hiện quá trình đẻ. Khu còn lại là khu vực chuồng dành cho lợn hậu bị mới nhập về và lợn nái loại thải. Khu chuồng nái chửa gồm 2 dãy dành cho lợn nái mang thai và là chuồng có diện tích lớn nhất, cách sắp xếp lợn trong chuồng đối với những lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau được xếp vào những dãy khác nhau, lợn đực phục vụ việc lấy tinh phối giống được xếp ở đầu các dãy ô nái, gần khu vực lấy tinh.

Lợn nái cai sữa được đưa về nơi chờ phối trong chuồng lợn nái có chửa nhằm thuận tiện cho việc kiểm tra và lên giống. Một góc chuồng nái chửa là khu kiểm tra lợn động dục, khu phối, khu lấy tinh, cạnh khu lấy tinh có phòng nhỏ để kiểm tra tinh được gọi là phòng tinh. Phòng tinh được trang bị khá đầy đủ: kính hiển vi, tủ lạnh, nồi hấp dụng cụ, máy ép túi tinh, nhiệt kế,… Chuồng được xây dựng đạt tiêu chuẩn của một chuồng kín với kết cấu tất cả sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn nền chuồng giúp công việc vệ sinh, khử trùng được thuận tiện. Đầu chuồng nái chửa có hệ 6 thống giàn mát, cuối chuồng có hệ thống quạt thông gió với 3 quạt hoạt động nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng.

Ngoài ra,bên trong chuồng còn được trang bị đầy đủ hệ thống vòi nước tự động, máng ăn cho từng ô lợn nái nhằm đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai đạt hiệu quả nhất. Chuồng đẻ gồm :Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió, chuồng có 2 dãy và có 1 công nhân và 1 sinh viên phụ trách. Trong chuồng đẻ sàn chuồng lợn mẹ làm bằng bê tông còn sàn chuồng dành cho lợn con làm bằng nhựa cứng. Mỗi một ô chuồng đẻ đều có vòi nước tự động dành cho lợn mẹ và dành cho lợn con.

Phần chuồng cho lợn con khá rộng rãi, một góc để lồng úm, lồng úm được làm bằng khung gỗ và đan bao tải cám đã được ngâm sát trùng. Mỗi lồng úm được trang bị một bóng đèn sưởi ấm, trong mỗi ô chuồng để một máng ăn nhỏ cho lợn con tập ăn. Tại khu chuồng đẻ mỗi lần xuất lợn con và đuổi lợn mẹ về khu vực chờ phối thì chuồng được cọ rửa và phun vôi để trống chuồng 5-7 ngày trước khi đuổi lợn bầu sắp đẻ lên. Khu chuồng cách ly là khu chuồng nuôi lợn hậu bị mới nhập về để thay thế đàn và lợn nái loại thải.

Vị trí chuồng nằm gần cổng và nằm cách xa khu chuồng nuôi nhằm xử lí cách li khi nhập lợn mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ