Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược về cây dưa leo 1. Nguồn gốc phân loại Dưa leo (Cucumis sativus L.) hay miền bắc còn gọi là dưa chuột bắt nguồn từ châu Á.
Nhiều tài liệu cho thấy dưa leo có nguồn gốc ở miền Tây Ấn Độ. Cũng có ý kiến cho rằng dưa leo có nguồn gốc ở Nam Á và được trồng trọt vào khoảng 3000 năm trước. Dưa leo được đưa đến một số vùng phía tây châu Á, Bắc Phi và Nam Âu. Dưa leo được giới thiệu ở Trung Quốc rất sớm, có thể 100 năm trước hoặc sớm hơn.
Dưa leo thuộc họ bầu bí Cucurbitaceae, chi Cucumis. Đã có nhiều tác giả tiến hành phân loại dưa leo, trong đó Teachenko (1967) đã phân loại Cucumis sativus L. thành 3 thứ dưa: dưa leo thường, dưa leo lưỡng tính và dưa leo hoang dại, .B Libner Nonneck (1989) thì Cucumis sativus L. chỉ là một dạng hình của dưa leo, là cây rau thương mại quan trọng.
George (1989) dưa leo có nhiều dạng hình, hình dạng và kích cỡ quả phong phú. Loài trồng trọt có thể chia thành 4 nhóm chính: - Dưa chuột sản xuất ngoài đồng với đặc điểm nổi bật là gai trắng hoặc đen. - Dưa leo trồng trong nhà kính hoặc như giống dưa leo Anh. Những dạng hình này quả dài, không có gai, có thể sản xuất quả đơn tính.
- Dưa leo quả nhỏ dùng để dầm dấm, muối chua. - Giống Sik Kim, nguồn gốc ở Ấn Độ, quả có màu hơi đỏ hoặc vàng da cam [4]. Đặc điểm sinh học của cây dưa leo 1. Hệ rễ Dưa leo có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ẩm ướt nên rễ của dưa leo nhìn chung yếu hơn rễ các cây bí ngô, dưa hấu, dưa thơm.
Hệ rễ ưa ẩm không chịu được khô hạn cũng không chịu được ngập úng. Hệ rễ của dưa leo có thể ăn sâu dưới tầng đất 1m, rễ nhánh và rễ phụ phát triển theo điều kiện đất đai. Hệ rễ phân bố ở tầng đất 0 - 30 cm, nhưng hầu hết rễ tập trung ở tầng đất 15 - 20 cm [4]. Thân Thân dưa leo thuộc loại leo bò, thân mảnh nhỏ, chiều cao thân phụ thuộc chủ yếu vào giống, điều kiện ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc.
3 Căn cứ vào chiều cao cây có thể phân thành 3 nhóm: - Loại lùn: chiều cao từ 0. - Loại trung bình: chiều cao từ 1 - 1. - Loại cao: chiều cao trên 1.5m, thường 2 - 3 m, cũng có loại tới 4 - 5 m. Trên thân có cạnh, có lông cứng và ngắn.
Trên thân chính có khả năng phân cành cấp 1 và cành cấp 2, quả ra chủ yếu trên thân chính. Lá Lá dưa leo gồm có lá mầm và lá thật, 2 lá mầm mọc đối xứng qua trục thân. Lá mầm có hình trứng và là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá và dự đoán tình hình sinh trưởng của cây. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng 2 lá mầm là chất lượng giống, khối lượng hạt giống to hay nhỏ, chất dinh dưỡng trong đất, độ ẩm đất và nhiệt độ, nhiệt độ quá thấp sẽ làm lấ bị co rút lại.
Lá thật có 5 cánh, chia thuỳ nhọn hoặc có dạng chân vịt, trên lá có lông cứng, ngắn, màu sắc lá thay đổi [4]. Hoa Hoa dưa leo có màu vàng đường kính từ 2 - 3 cm. Tính đực cái của hoa dưa leo biểu hiện rất phong phú. Phần lớn dưa leo thuộc dạng cây có hoa đơn tính cùng gốc, hoa đực và hoa cái trên cùng 1 cây.
Tuy nhiên cũng có dạng trên cây chỉ có hoa cái, hoặc đôi khi xuất hiện dạng hình hoa đơn tính khác gốc, đó là trên cây tất cả đều là hoa cái hoặc tất cả là hoa đực. Hoa đực mọc thành chùm ở nách lá, hoa cái mọc đơn nhưng ở vị trí cao hơn hoa đực. Hoa cái có cuống ngắn và mập hơn hoa đực. Hoa dưa leo thụ phấn nhờ côn trùng (ong mật).
Sự xuất hiện của hoa cái sớm hay muộn phụ thuộc vào nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, chất dinh dưỡng và nồng độ CO2. Nhiệt độ 18 ± 60C, thời gian chiếu sáng 10 - 11 giờ/ngày, nồng độ CO2 đầy đủ, dinh dưỡng thích hợp thì hoa cái xuất hiện sớm hơn và nhiều. Nếu nhiệt độ cao, thời gian chiếu sáng dài (>14 giờ/ngày) hoa cái ra muộn và ở vị trí cao [4]. Quả Quả dưa leo thường thuôn dài, quả có 3 múi, hạt đính và giá noãn.
Hình dạng, độ dài, khối lượng, màu sắc quả sai khác rất lớn. Sự sai khác đó phụ thuộc chủ yếu vào giống. Màu sắc quả của hầu hết các giống dưa leo là màu xanh, xanh vàng, khi chín vỏ quả thường nhẵn hoặc có gai [4]. Giá trị của cây dưa leo 1.
Giá trị dinh dưỡng Các loại rau nói chung và dưa leo nói riêng là loại thực phẩm cần thiết cho đời sống hằng ngày và không thể thay thế. Rau được coi là nhân tố quan trọng đối với sức khỏe và đóng vai trò chống chịu với bệnh tật. Theo số liệu trong bảng thành phần dinh dưỡng của viện dinh dưỡng [7] xuất bản năm 2007 thì thành phần dinh dưỡng của dưa leo được trình bày trong bảng sau: 5 Bảng 1. Thành phần dinh dưỡng trong 100g phần ăn được của dưa leo Thành phần dinh dưỡng Hàm lượng Thành phần dinh dưỡng Hàm lượng Nước 95g Canxi 23mg Năng lượng 16kcal Sắt 1mg Protein 0.8g Magie 15mg Lipit 0.9g Photpho 27mg Chất xơ 0.7g Kali 169mg Đường tổng số 1.67g Natri 13mg Vitamin C 5mg Kẽm 0.18mg Vitamin PP 0.1mg Đồng 90 μg Vitamin B1 0.04mg Folate 7 μg Vitamin B5 0.259mg β - caroten 138 μg Vitamin B6 0.4μg Nguồn bảng thành phần thực phẩm Việt Nam 2007 Như vậy, dưa leo là loại rau xanh rất tốt cho sức khoẻ nhờ chứa nhiều Kali tốt cho người bị tim mạch, giàu các chất chống ôxy hoá như vitamin C, β- caroten.
Bên cạnh đó dưa leo có nhiều nước và chất xơ, ít năng lượng nên có tác dụng tốt trong giảm cân. Dưa leo cũng chứa nhiều vitamin và chất khoáng cần thiết cho cơ thể. Giá trị kinh tế Ngoài giá trị về mặt dinh dưỡng thì dưa leo là một trong các loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các vùng chuyên canh. Trong các loại rau trồng hiện nay, dưa leo là cây đứng thứ 4 trên thế giới và châu Á về diện tích (2377,888 nghìn ha năm 2003), đứng thứ 3 về sản lượng thu hoạch (37,6 triệu tấn năm 2003).
Dưa leo là một trong những loại rau ăn quả có giá trị kinh tế cao trong ngành sản xuất rau của nhiều nước trên thế giới. Theo số liệu thống kê của FAO năm 2018 [26], 10 nước có diện tích, năng suất và sản lượng dưa leo cao nhất thế giới thể hiện trong bảng dưới. Diện tích, năng suất và sản lượng của 10 quốc gia sản xuất dưa leo cao nhất thế giới Stt Quốc gia Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn) 1 Trung Quốc 1046237 53.6728 2283750 3 Thổ Nhĩ Kỳ 37605 49.6154 700819 9 Tây Ban Nha 7507 85.8868 550000 Nguồn FAO 2018 Trong những năm gần đây số liệu thống kê, diện tích trồng dưa leo cả nước năm tăng lên đáng kể. Nhu cầu tiêu dùng dưa chuột và các sản phẩm chế biến từ dưa chuột tăng mạnh từ cuối năm 2008 đến nay.
Theo số liệu thống kê của tổng cục hải quan, kim ngạch xuất khẩu dưa chuột và các chế phẩm từ dưa chuột 5 tháng đầu năm 2009 đạt hơn 22,2 triệu USD tăng 155% so với cùng kỳ 2008, ước tính trong tháng 6 kim ngạch có thể đạt tới gần 1,9 triệu USD, nâng tổng kim ngạch lên 24,1 triệu USD. Có 33 thị trường nhập khẩu dưa chuột từ Việt Nam, trong đó Liên Bang Nga là nước có kim ngạch cao nhất với 12,3 triệu USD, đây cũng là thị trường có kim ngạch cao nhất trong nửa đầu năm 2008 [12]. Công dụng của dưa leo [23],[27] * Dưa leo giúp giải khát, thanh nhiệt Trong dưa leo có chứa tới hơn 90% là nước, do đó nó có công dụng giải khát tuyệt vời. Ngoài ra, nó còn có tác dụng lọc máu cho cơ thể, hòa tan axit uric, urat giúp lợi tiểu, … Đồng thời, nhờ lượng kali dồi dào mà việc sử dụng loại quả này khá tốt đối với những người bị bệnh tim mạch.
7 * Thải độc tố cho cơ thể Dưa leo chứa lượng nước khá lớn cùng một số loại chất thiết yếu có tác dụng lợi tiểu này, làm sạch niệu đạo giúp thận thải bỏ ra ngoài các độc tố trong ống tiểu. Bên cạnh đó còn có công dụng giải độc gan, phổi, dạ dày, … * Giải tỏa căng thẳng Dưa leo hoàn toàn có thể giúp chúng ta xua tan mệt mỏi, uể oải đó bạn nhé. Hãy ăn một trái dưa leo, Vitamin B và Cacbonhidrat sẽ mạng lại cảm giác thoải mái, tỉnh táo và phục hồi sinh lực nhanh chóng. * Hỗ trợ giảm cân Nhờ tác dụng ức chế sự hình thành mỡ trong cơ thể, dưa leo rất có lợi cho người mập muốn giảm cân.
Nó có khả năng khống chế đường chuyển hóa thành mỡ, đồng thời giúp tăng cường hoạt động của dạ dày, ruột, không làm tăng năng lượng cho cơ thể nhờ chứa nhiều chất xơ. Ngoài ra, dưa leo còn giúp làm giảm cholesterol và chống khối u. Công dụng của dưa leo trong y học * Công dụng của dưa leo theo Tây y Trong dưa leo có ion Natri, Canxi, Kali, Phospho, chất khoáng, các vitamin B, C. Vỏ dưa có chứa tiền Vitamin A và vitamin E.
Do hàm lượng Canxi cao nên dưa leo có tác dụng tốt đối với trẻ em tự lớn, và người già, lượng kali dồi dào nên dưa leo cũng có tác dụng tốt đối với người bị bệnh tim mạch và tăng huyết áp. Do đặc điểm giàu kali, ít natri nên dưa leo kích thích sự lưu thông nước trong cơ thể, bù đắp lượng khoáng cho cơ thể. Dưa leo có chứa một lượng lớn chất khoáng và ít calo nên có thể chế biến để sử dụng trong chế độ ăn kiêng tránh béo phì. * Công dụng của dưa leo theo Đông y Dưa leo hay còn gọi là hồ qua (hoặc hoàng qua), có tính hàn, vị ngọt, ít độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, mát da thịt, lợi tiểu, chữa phù thũng, sưng trướng, chữa kiết lỵ (do nhiệt), đau bụng do ruột bị kích thích, dưa leo còn sử dụng để dưỡng da: đắp ngoài trị da nhờn, nếp nhăn, tàn nhang, nấm ngoài da.
Trong dân gian, ngoài việc ăn sống, dùng trong trộn gỏi, hay xào dưa leo với cua, người ta còn sử dụng dưa leo trong một số trường hợp như chữa viêm họng, xử lý quầng thâm trên mắt, phục hồi tóc bị hư tổn, giúp làn da mịn màng, chữa mụn và vết nhăn [25].