CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE VAN DE NGHIEN CUU 1. Tong quan vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu cây Cao su trên thế giới Cây Cao su (Hevea brasiliensis Mull Arg) có mị uồn gốc từ Nam Mỹ, sau này được đi đưa trồng ở các nước Châu Á, Châu phi. Cây Cao su có khả năng thích ứng rộng, thích hợp chống chịu cao, là cây công nghiệp có giá trị lớn.
Vì vậy những công trình nghiên cứu về cây Cao su đã được nhiều tác giả đề cập tới. Á P vê Năm 1873, những cố gắng nghiên cứu thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây Cao su ra phạm vi Brazin da date tiến hành. Sau một thời gian, 12 hạt giống đã nảy mầm tại Vườn thực 4a Hoàng gia Kew. Những cây con nay đã được gửi tới Án Độ để gieo trồng nhưng chứng đều chết.
Đến năm 1975, sau những nghiên cứu tiếp theo‘06 khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew trong đó có khoảng.bạt giống đã được nay mam. Nam 1876, nhimg cây giống đã được gửi tới Ceylon và các Vườn thực vật tại Singapo. Sau đó, cây Cao su đã có mặt thực vật ở Buitenzorg, Malaysia vào năm 1893. Năm 1898, một đồn điền Cao ã được thành lập tại Malaysia.
Đến nay phần lớn điện tích trồng Cao su năm tại Đông Nam Á và một số tại khu vực Châu Phi nhiệt đới. @Q- mục tiêu tạo tuyển giống cây Cao su có năng suất mủ sâu bệnh tốt và thích nghỉ với môi trường thì tiêu ở thành tiêu chí quan trọng. trong chọn giống Cao su vì gỗ nhu cầu 0 ngày càng cao. Để đáp ứng mục tiêu đó, Malaysia đã đặt mục tiêu tạo tuyển giống Cao su đạt năng suất bình quân 3,5 tấn mủ/ha/năm và năng suất gỗ toàn cây đạt 1,5 mỶ/cây vào chu kì kinh doanh.
Hiện nay, Indonesia là nước trồng Cao su lớn nhất trên Thế Giới. Tại nước này người ta thành lập các tổ chức hỗ trợ cho việc phát triển Cao su như: NES (Nuclear Eatate Schenmes — Kế hoạch đại điền hạt nhân) nhằm hỗ trợ sự 5 phát triển điện tích canh tác mới của Cây cao su cho thành phần nông dân nghèo không có đất. Tổ chức này ký hợp đồng với nhà nước và sử dụng đại điền làm hạt nhân để hỗ trợ sự phát triển của tiểu điền xung quanh như xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ trồng và chăm sóc cây cho tới khi khai thác. Năm 1899, Thái Lan cho nhập Cao su từ Java thuộc Indonesa về trồng tại tỉnh Trang, vùng Tây Nam, sau đó cây Cao su đã ¡được làn sang phía Nam và phía Đông của nước này.
Ngày nay, Thái Lan đã Phát triển nhân giống Cao su ra phía Bắc và Đông Bắc. Thái Lan cũng, có Các tổ chức hỗ trợ việc phát triển Cao su tiểu điền như ORRAF (Office of ‘the Rubber Auction Market — Chợ đấu giá trung tâm).(Nuchanat Na — Ránông), 2006 [16] Trước năm 1990, Malaysia là nước trồng v# bán xuất Cao su thiên nhiên hàng đầu thế giới, sản lượng Céorsubdat cao nhất là 1.000 tấn vào nam 1988. Malaysia là một điển hình trong nghiên cứu chọn lọc và khuyến cáo giống Cao su thích nghỉ theo điêu kiện sinh thái môi trường để tố ưu hóa tiềm năng của giống cây. Việc phi, vùng.
LÀN yếu dựa trên mức độ gây hại Cao su như bệnh nắm hông, bering lá phần trắng, bệnh héo đen đầu lá và bệnh rụng lá Corynesposa£. b Ấn Độ cũng đã nghiền cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp để phát triển cây Cao sử ở vùng truyền thống (từ vĩ độ 15° — 20° Bắc), kết quả đạt rất khả quan và năng suất 'cây Cao su có thể đạt được trên 1,Š tấn/ha/năm (SK.Dey vi TK Pall, 2006) [17] Trun; ác! vi trồng Cao su rất đặc thù so vơi các nước khác. Các yếu tố bất lợi c Đàn 4 đới cây Cao su ở Trung Quốc là khí hậu mùa đông lạnh, đối với một số hại của gió bão, đẻ hạn chế tai hại của các yếu tố không thuân lợi, Trung Quốc đã nghiên cứu và áp dụng những biện pháp kỹ thuật canh tác và tạo hình thích hợp đối với từng vùng trồng Cao su cu thé. Kết quả là năng suất của một số vùng như XishuaBana thuộc tỉnh Vân Nam năng, suất mủ đạt bình quân trên 2 tắn/ha/năm với giống PR 107, Rrim 600 và GTI.
Hai giống mới có khả năng chống chiu lạnh và khô hạn tốt la Vân Nghiên 77-2, Vân nghiên 77-4 (Xiong Daiqun va Jiang Jusheng, 2006) [18] Ngày nay, trên thé giới có su hướng phát triển Cao su mới đó là trồng Cao su theo mô hình nông lâm kết hợp đẻ thay thế dần cho mô hình trồng Cao su độc canh (Laxman Joshi, Eric penot, 2006) [15] 5 1. Tình hình nghiên cứu cây Cao su tại Việt Nam > Năm 1897, bác sỹ Yersin đã thu thập thành công cây Cá vào Việt Nam và vườn Cao su đầu tiên được trồng tại Suối Dau> NhấT, rang. Đầu thế kỷ XX, cây Cao su được trồng tại Đông Nam Bộ và đến đầu thập kỷ 50 được trồng tại một vùng Tây Nguyên, miền Trung: - số vùng phía Bắc (Đặng Van Vinh, 2000) [13] 'Vào năm 1976, diện tích Cao sả ta có khoảng 76.600 ha cho sản lượng chỉ khoảng 40. Hon 30 năm phát triển với chính sách vả đầu tư đúng đắn của nhà nước, kết hợp với sự đóng góp của các thành phần kin tế khác nhau và các cán bộ khoa học kỹ thuật, đến năm 2003 diện tích Cao! ấu thiệc Tổng công ty Cao su Việt Nam là 215.610 ha, đưa vào khái.
thac 173, l4 ha với năng suất bình quân 1,51 tắn/ha/năm (Lê Hồng Tiễn, 2006) l6]. Đến cuối năm 2007, tổng diện tích cả nước đạt 549.000 ha, cho sản lượng 601.700 tấn, đạt năng suất bình quân 1,612 tắn/ha/năm. Năng suất trên diện tích do Tập Đoàn Công Nghiệp Cao su Việt Nam quản lẻa 1,716.1 pile cao hon năng suất s các nước cao omy những tăng về số ae còn tăng cả về mặt chất lượng. Trong năm 2007, Viét Nam đã Xuất Khẩu 741.000 tấn Cao su 15 chủng loại khác nhau mang về nguồn ngoại tệ gần 1,4 tỷ USD (Trần Thi Thúy Hoa, 2008) [14] Sau 110 năm cây Cao su được thu nhập, hiện nay nước ta đang đứng thứ 6 trên thế giới về sản lượng Cao su thiên nhiên và thứ 4 xuất khẩu Cao su thiên nhiên.
Trong các vùng trồng Cao su chính ở Việt Nam thi Đông Nam Bộ chiếm 67,4% về diện tích nhưng đóng góp đến 78,55% về sản lượng, đồng, thời cũng là vùng đạt mức năng suất cao nhất nước. Tây Nguyên và miền Trung là vùng có điều kiện khí hậu ít thuận lợi song cây Cao su vẫn phát triển tương đối tốt và dat sản lượng bình quân tương ứng là 1.36 tan/ha/nam va 1,172 tắn/ha/năm. se Tác giả Tống Viết thịnh đã có công trình nghiền cứu. “đánh giá phân hạng sử dụng đất sử dụng trồng Cao su.
Theo ức giả căn cử “mức độ hạn chế của chỉ tiêu khí hậu (chế độ mưa, cân bằng nước, chế độ ‹ nhiệt, sương mù và tốc độ gió) và 10 chỉ tiêu đất (tang day, thành phần cơ giới, độ phì, sỏi đá và độ dốc). Áp dụng nguyên tắc của FAO để phân hạng sử dụng đất trồng Cao su gồm 2 hạng đất sử dụng phù hợp và 2Áạng)đất không phù hợp. Từ năm 1990 đến nay, tại các công ty Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đã ứng dụng thành công trên diện tích rộng. Trên các diện tích.
áp dụng phân hạng đất trồng Cao su theo FAO, các cơ sở áp dung để định suất đầu và khoán vườn cây hợp lý và hiệu quả hơn, không cònhiện lượng Vườn Cao su bị thanh lý do trồng trên đất kém. Tiến bộ này đuốc Tập đoàn. công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) chính thức đưa vào áp dụng, ong. toần ngành (Tống 'Viết Thịnh, 2008) [8] Ngoài ra tác giả Tống Thịnh cũng đã nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho cây Cao su theo phương pháp chuẩn đoán dinh dưỡng.
căn cứ vào mức độ thiếu hụt, thặng dứ và tỷ lệ cân đối của từng nguyên tố dinh dưỡng ánh giá hàm lượng dinh dưỡng trong đất và là trên hang chuẩn và căn cứ vào hiện trạng vườn cây ởng, lịch sử chăm sóc và bốn phân vườn cây) để đề xuất liều lượng và tỷ lệ các nguyên tố dinh dưỡng hợp lý, tạo ra sinh trưởng và năng suất mủ vườn cây đạt hiệu quả kinh tế - kỹ thuật tối ưu. Từ năm 2002 đến nay, đã ứng dụng thành công trên diện rộng tại công ty Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Trên các diện tích bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng đã mang lại hiêu quả: tiết kiệm phân bón, gia tăng, én định sinh trưởng và sản lượng mủ trong nhiều năm. Với các kết quả trên, từ năm 2004, VRG đã đưa chính thức kỹ thuật bón phân theo chuẩn đoán dinh dưỡng vào quá trình của ngành (Tống Viết Thịnh, 2008) [8] Về kỹ thuật khai thác, chăm sóc cây Cao su cũng có nhiều tác giả nghiên cứu.
năm 2004, VRG đã xuất bản quy trình kỹ thuật cây Cao su. Trong, quy trình này đã được trình bày rõ các biện pháp kỹ thuật ong quy trình sản xuất, quy trình khai thác mủ và chăm sóc cây Cao Su, quy trình. bảo vệ thực vật, phân hạng đất trồng cây Cao su. Những, nai điệp theo cấp nhà nghiên cứu đã không ngừng đưa ra các cải tiến kỹ thuật nhăm nấng, gas năng suất và sản lượng cây Cao su.
Tác giả (Hà Văn Khương, 2006) tá] đã nghiên cứu để áp dụng các tiến bộ khoa học — kỹ thuật vào vườn Cao su của Tổng công ty Cao su Việt Nam. K Ở Việt Nam cây Cao su được phát triển trên nhiều vùng khác nhau, ngoài Đông Nam Bộ thì có cả Tây Nguyên, duyên hải miền Trung và Tây Bắc. theo Nguyễn Thị Huệ (1997), Cao su là loài cây dài ngày, được độc canh trên vùng có khí hậu nóng ẩm Tiền đã có:nhiều bệnh xuất hiện và gây hại làm ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng và sản lượng của cây Cao su. Tác giả Phan Thanh Diing da theo dõi trong thời gian từ năm 1996 — 2005, có 7 loại bệnh gây hại chính đến sinh trực ng và sản lượng cây Cao su, trong đó có 3 loại mới xuất ứt vỏ, đo nấm Betrydiplodia theobromae Pat (1998), bệnh rụng lá cobmesttra <(1999) va ré nau do nam phellinus (corner) G.