MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Tài nguyên rừng là bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi. Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống xói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Cây dược liệu, chúng không những đem lại các nguồn lợi ích kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội và chính trị, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay thì nó lại càng trở nên quan trọng hơn.
Bởi vậy chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa về việc quản lý nguồn tài nguyên quý này. Chúng ta có 2,2-2,5 triệu ha rừng tự nhiên (và khoảng 0,8 triệu ha rừng trồng) có tiềm năng cho thu nhập cao từ Lâm sản ngoài gỗ. Cây lâm sản ngoài gỗ rất đa dạng (gần 4000 loài cây làm dược liệu, 500 loài cung cấp tinh dầu, 200 loài tre nứa, 30 loài song mây.), trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế cao, đáp ứng cả nhu cầu tiêu thụ tại chỗ, trong nước lẫn xuất khẩu [22]. Trước đây việc quản lý các sản phẩm ngoài gỗ, một lượng lâm sản ngoài gỗ bị buông lỏng trong một thời gian dài, nhưng những năm gần đây, do tác động của cơ chế thị trường đã làm thay đổi tình hình sử dụng các nguồn lâm sản ngoài gỗ này.
Cùng với sự thay đổi đó, nhu cầu thự hiện các quyền sử dụng nguồn lâm sản ngoài gỗ đặc biệt là một lượng lớn các sản phẩm từ cây dược liệu ngày càng cấp thiết. Nhà nước ta đã và sẽ ngày càng hoàn thiện các chính sách pháp luật để thiết lập một hệ thống hồ sơ các loài cây dược liệu hoàn chỉnh trên phạm vi cả nước, làm cơ sở nắm chắc, quản lý chặt chẽ các loài cây dược liệu, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. h 2 Cùng với sự phát triển chung của cả nước và nhu cầu hoàn thiện về hệ thống sơ đồ các loài cây dược liệu, tại vườn ươm của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tiến hành thực hiện quá trình nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sự sinh trưởng và phát triển của loài cây dược liệu Sói rừng. Cây dược liệu là nguồn tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của đồng bào các dân tộc miền môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của núi.
Nói đến cây Sói, người ta thường nghĩ tới cây Sói cảnh, hay trồng để lấy hoa ướp trà. Thực ra, ở nước ta còn nhiều loài sói khác mọc hoang. Trong số những cây sói mọc hoang trong rừng, có một loài rất giàu dược tính và những năm gần đây thương lái nước ngoài đến thu mua rất nhiều, đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt. Đó là cây mà sách thuốc gọi là ''sói rừng''.
Theo Đông y, cây Sói rừng (Sarcandra glabra) có vị đắng cay, tính hơi ấm, có độc; có tác dụng hoạt huyết giảm đau, khư phong trừ thấp, tiêu viêm giải độc. Trong dân gian, rễ cây được ngâm rượu, uống chữa đau tức ngực. Lá được sắc uống trị bệnh lao, hoặc giã đắp chữa rắn cắn, ngâm rượu xoa bóp chữa vết thương, mụn nhọt, phong thấp, đau nhức xương. Theo Perrot và Hurrier (1906), toàn bộ cây sói rừng cũng được dùng để chữa bệnh động kinh.
Ở Trung Quốc, cây được dùng trị ung thư tuỵ, dạ dày, trực tràng, gan, cuống họng, viêm não B truyền nhiễm, lỵ trực trùng, viêm ruột thừa cấp, bệnh nhọt, ngã tổn thương, gãy xương, thấp khớp tạng khớp, đau lưng [27]. Cây dược liệu không chỉ cho chúng ta những bài thuốc quý mà chúng còn có giá trị về kinh tế, có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học. Với những lí do đó, việc chọn đề tài: “Ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của cây Sói rừng (Sarcandra glabra) tại vườn ươm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên” là rất cần thiết, có ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn sản xuất. Mục đích của đề tài Xác định được ảnh hưởng của chế độ bón phân đến sinh trưởng của cây Sói rừng trong giai đoạn vườn ươm.
Từ đó góp phần nâng cao thu nhập cải thiện đời sống cho người dân, nhằm nâng cao năng suất làm cơ sở để phát triển góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng, từng bước khai thác có hiệu quả tiềm năng cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa của việc nghiên cứu Ý nghĩa khoa học Vận dụng những kiến thức thực tế của bản thân làm quen với quá trình nghiên cứu trong thực tế. Tích lũy những kinh nghiệm, những hiểu biết từ đó thấy được những điểm mạnh, điểm yếu cảu bản thân khi đi làm. Nâng cao kiển thức, hiểu biết về loài cây dược liệu Sói rừng cho bản thân.
Rèn luyện các kỹ năng tổng hợp, phân tích, tổng hợp số liệu tiếp thu và hỏi những kinh nghiệm từ thực tế. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài đóng góp thêm cơ sở lý luận về ảnh hưởng của chế độ bón phân đến cây Sói rừng ở vườn ươm. Xác định được sự sinh trưởng, phát triển của loài cây sói rừng trong các điều kiện bón phân khác nhau. Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực và chínhxác.
Đề xuất một số giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế phù hợp với điều kiện thực tế. Nâng cao kiến thức thực tế, sự hiểu biết của bản thân để phục vụ cho công tác sau khi ra trường. h 4 PHẦN II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.Cơ sở khoa học Mục đích của việc bón phân là nhằm làm cho cây phát triển và đạt năng suất cao, có phẩm chất tốt, cho nên bón phân phải phù hợp với yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây trồng mới phát huy tối đa tác dụng của phân bón. Sinh trưởng và phát triển của cây trồng có quan hệ mật thiết với điều kiện bên ngoài.
Nguyễn Tuấn Bình, (2002) [2]. Phân bón là chất dùng để cung cấp một trong nhiều chất cần thiết cho cây. Phân bón có thể là sản phẩm thiên nhiên hoặc được chế tạo trong công nghiệp. Trong cả hai cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như nhau và tác dụng như nhau đối với sinh trưởng của cây.
Phân bón có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của thực vật, nó không những có tác dụng làm cho cây sinh trưởng nhanh mà còn là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển của cơ thể thực vật. Theo nhiều tài liệu trên thế giới, chỉ sử dụng phân bón chiếm 30%. Việc kết hợp cân đối nguồn phân, khả năng cung cấp của đất, thể thống canh tác, giống cây trồng, điều kiện thời tiết thích hợp sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản suất, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững. Phân bón là chất dùng để cũng cấp một trong nhiều chất cần thiết cho cây.
Phân bón có thể là một sản phẩm thiên nhiên học được chế tạo trong công nghiệp. Trong cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như nhau và tác động như nhau đối với sinh trưởng của cây, trong các biện pháp kỹ thuật được sử dụng phổ biến thường xuyên đem lại hiệu quả lớn. Tuy nhiên bón phân cần phải cân đối để cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời h 5 gian bón hợp lý theo từng đối tượng cây trồng, từng loại đất và mùa vụ cụ thể sẽ đảm bảo năng xuất cao, chất lượng tốt. Các loài phân hóa học được sử dụng chăm sóc cây con trong thời gian ngắn.
Bón phân này cần kết hợp với các biện pháp lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh phải thường xuyên phát huy tối đa hiệu lực của phân bón. Tài nguyên cây dược liệu trên Thế giới 2. Lịch sử nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (2005) [8] đã có tài liệu hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Guidelines on good agricultural and collection practices for medicinal plants). Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước đã dựa trên tài liệu hướng dẫn này để xây dựng khung quy định cho sản xuất cây dược liệu, nhằm đưa cây dược liệu và các sản phẩm dược liệu trở thành sản phẩm hàng hóa trên toàn Thế giới.
Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật được dùng làm thuốc, dùng làm dược liệu. Khoảng 2500 cây được buôn bán trên thế giới. Có ít nhất 2000 cây được sử dụng ở châu Âu, nhiều nhất ở Đức 1543. Ở Châu Á có 1700 loài ở Ấn Độ, 5000 loài ở Trung Quốc.
Trong đó, có đến 90% thảo dược thu hái hoang dại. Do đòi hỏi phát triển nhanh hơn sự gia tăng sản lượng, các nguồn cây dược liệu, cây thuốc tự nhiên bị tàn phá đến mức không thể cưỡng lại được, ước tính có đến 50% đã bị thu hái cạn kiệt [1]. Thấy được tầm quan trọng của việc phải bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc, cây dược liệu và đáp ứng lời kêu gọi của các tổ chức trên, rất nhiều nước trong đó có các nước đang phát triển với những điều kiện kinh tế xã hội gần tương đồng với nước ta cũng đã xây dựng những Vườn bảo tồn cây dược liệu. Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (1985) [8] trong tổng số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng 20.000 loài được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau.
Trong đó, Ấn Độ h 6 được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc. Tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên Thế giới Theo nghiên cứu của Paul E. Các loài thuộc chi Chloranthus đã được sử dụng như một loại trà và để chống lại cơn sốt, và Sarcandra glabra được trồng làm cảnh. Smilax glabra được sử dụng trong thảo mộc Trung Quốc [12] nó cũng là một thành phần quan trọng trong món tráng miệng y tế Trung Quốc, sử dụng tài sản của nó để thiết lập một số loại thạch.