Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Văn hóa làng nghề mây tre đan xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình" được thực hiện bởi sinh viên Trần Thị Thảo Vân thuộc ngành Văn hóa truyền thông, Khoa Quản lý Xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Thị Diệu Thúy (năm 2024).

Nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh thực tiễn của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Ngành mây tre đan là một bộ phận của kinh tế nông thôn, tận dụng lợi thế khí hậu nhiệt đới gió mùa và nguồn nguyên liệu dồi dào nhằm tạo sinh kế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ thuần nông sang tiểu thủ công nghiệp. Tại tỉnh Thái Bình, làng nghề mây tre đan Thượng Hiền (tiền thân là làng Dưỡng Thông từ thế kỷ XVIII) là một trung tâm sản xuất thủ công có lịch sử lâu đời. Mặc dù trải qua nhiều biến động lịch sử và thị trường, làng nghề vẫn duy trì bản sắc và tập quán sản xuất truyền thống. Tác giả nhận định văn hóa làng nghề là một bộ phận cấu thành di sản văn hóa phi vật thể của địa phương, do đó việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa này mang tính cấp thiết về mặt lý luận lẫn thực tiễn.

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về văn hóa làng nghề, khóa luận phân tích và đánh giá thực trạng bảo tồn, phát triển văn hóa làng nghề mây tre đan xã Thượng Hiền; từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề trong bối cảnh đương đại.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về văn hóa làng nghề.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa làng nghề mây tre đan xã Thượng Hiền.
  3. Bàn luận và đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển văn hóa làng nghề mây tre đan xã Thượng Hiền.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa làng nghề và các giá trị văn hóa của làng nghề truyền thống mây tre đan xã Thượng Hiền.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thôn Văn Lăng, xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và khảo sát dữ liệu thực tế từ tháng 4 năm 2020 đến tháng 4 năm 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên các khái niệm nền tảng trong nghiên cứu văn hóa học và xã hội học:

  • Khái niệm văn hóa: Tiếp cận từ định nghĩa tổng quát của E. B. Tylor (thế kỷ XIX), quan niệm phương Đông trong sách Chu Dịch, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và định nghĩa phân định văn hóa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
  • Khái niệm làng nghề và làng nghề truyền thống: Sử dụng quan điểm của Lưu Tuyết Vân, Phạm Côn Sơn và Bùi Văn Vượng để xác định đặc trưng của làng nghề (cộng đồng dân cư chuyên sản xuất hàng thủ công, kết hợp nông nghiệp với phi nông nghiệp, sản phẩm có tính thương mại).
  • Khái niệm văn hóa làng nghề: Tiếp thu quan điểm của A. Radugin (Từ điển Bách khoa Văn hóa học), Robert McCarl (Văn hóa dân gian trong các nghề qua bản dịch của Ngô Đức Thịnh và Frank Proschan). Văn hóa làng nghề được xác định bao gồm không gian sinh hoạt, di tích, nghi lễ, tín ngưỡng thờ tổ nghề, quan hệ xã hội, tri thức kỹ thuật và biểu tượng thẩm mỹ trên sản phẩm.
  • Khái niệm bảo tồn và phát triển văn hóa: Dựa trên cách tiếp cận từ Từ điển Tiếng Việt về bảo tồn (gìn giữ dạng thức vốn có) và phát triển (đưa giá trị văn hóa vào thực tiễn kinh tế - xã hội).
  • Khái quát địa bàn: Xã Thượng Hiền nằm ở phía Bắc huyện Kiến Xương (cách trung tâm huyện 5 km), diện tích tự nhiên 500,8 ha, dân số 6.950 người phân bố trong 2.083 hộ tại 7 thôn. Địa bàn có hai sông lớn chảy qua là sông Triều Dương và sông Nụ; dân cư gồm hai tôn giáo chính là Phật giáo và Công giáo.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai:

  • Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế: Khảo sát cảnh quan làng nghề, cơ sở sản xuất, sản phẩm mây tre đan; thực hiện phỏng vấn sâu trực tiếp các nghệ nhân, chủ cơ sở sản xuất và người dân địa phương (như bà Phạm Thị Vòng, ông Trần Văn Du).
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp tư liệu từ các công trình nghiên cứu trước đó (Trần Quốc Vượng, Đỗ Thị Hảo, Mai Thế Hởn, Lê Thị Minh Lý, Phạm Côn Sơn, Nguyễn Viết Sự), báo chí chuyên ngành và tài liệu quản lý nhà nước tại địa phương.
  • Phương pháp lịch sử: Thu thập, phục dựng quá trình hình thành và phát triển của làng nghề từ thế kỷ XVIII đến nay.

Nguồn dữ liệu: Kết hợp dữ liệu thứ cấp từ văn bản quản lý, sách chuyên khảo, tài liệu lưu trữ địa phương và dữ liệu sơ cấp thu được từ khảo sát điền dã, phỏng vấn thực tế tại thôn Văn Lăng (2020 - 2024).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa làng nghề và khái quát xã Thượng Hiền, Huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận và giới thiệu bối cảnh tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu:

  • Hệ thống hóa các khái niệm: Văn hóa, làng nghề, văn hóa làng nghề, làng nghề truyền thống, bảo tồn và phát triển.
  • Phân tích các thành tố của văn hóa làng nghề gồm: Tín ngưỡng thờ tổ nghề và lễ hội; văn hóa ứng xử; văn hóa tổ chức sản xuất; tri thức và kinh nghiệm sản xuất; nghệ thuật tạo tác sản phẩm; phương thức truyền nghề.
  • Khái quát vai trò của làng nghề nông thôn: Gia tăng thu nhập, giải quyết việc làm tại chỗ, đa dạng hóa hàng hóa tiêu dùng - xuất khẩu và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
  • Tổng quan điều kiện tự nhiên và xã hội xã Thượng Hiền: Vị trí địa lý tiếp giáp các xã lân cận (Lê Lợi, Bình Minh, Đình Phùng, An Bồi, Nam Cao), địa hình đồng bằng đất phù sa màu mỡ (đất thịt và cát pha nhẹ), hệ thống sông ngòi cung cấp nguồn nước và điều kiện phát triển vùng nguyên liệu phụ trợ (như bèo bồng). Dân cư có truyền thống đoàn kết, đời sống tâm linh gắn liền với các xứ đạo Công giáo và chùa Phật giáo.

Chương 2: Thực trạng văn hóa làng nghề mây tre đan xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

Chương 2 trình bày toàn diện hiện trạng lịch sử, kỹ thuật và các biểu hiện văn hóa của làng nghề:

  • Quá trình phát triển lịch sử: Làng nghề hình thành từ thế kỷ XVIII tại làng Dưỡng Thông. Thời Pháp thuộc, nghệ nhân cụ Thơi đan mây chế tác hoành phi câu đối đạt giải tại Đấu Xảo Hà Nội, được ban hàm Cửu phẩm; vua Bảo Đại phong tặng bức đại tự bốn chữ "Phẩm giá vô đề". Sau năm 1954, nghề tiếp tục duy trì; từ năm 1960 xuất khẩu mạnh sang Liên Xô và Đông Âu. Sau khi thị trường này biến động, làng nghề tự chủ chuyển hướng sang thị trường Tây Âu và nhiều quốc gia khác. Giai đoạn cực thịnh cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, xã bán ra thị trường khoảng 500.000 m² mặt ghế đan mây mỗi năm.
  • Quy trình sản xuất: Gồm các khâu: Chọn nguyên liệu (tre cộc trên 12 tháng tuổi, mây tròn đều dài khoảng 5 m); Sơ chế (chặt tre, phơi khô, ngâm nước thủ công hoặc hóa chất XM5 chống mọt; mây loại bỏ vỏ gai, phơi khô); Xử lý (tre hun khói rơm hoặc lá tre trong lò kín để tách đường và tạo màu; mây sấy lò, ngâm nước 15 phút trước khi đan, nhuộm màu thực vật hoặc sơn mài, gác bếp hun khói).
  • Các thành tố văn hóa đặc trưng:
    • Phong tục, tập quán: Chịu ảnh hưởng sâu sắc của Công giáo (tham gia thánh lễ, tổ chức lễ Giáng Sinh, Phục Sinh, đề cao đạo hiếu và kính trọng người già). Lễ cúng tổ nghề được tổ chức vào ngày mùng 2 Tết Nguyên Đán để ghi nhớ công ơn tiền nhân (người họ Phạm Xuân làng Dưỡng Thông có công phát triển làng nghề).
    • Nghệ thuật tạo tác: Các kiểu đan đặc trưng gồm hoa răng cưa, hoa dế, hoa tết tóc, hoa chanh, hoa sáu, đan căng đáy, đan ghế, đan tranh hai màu đen - trắng (trên bình ủ nước), đan phong cảnh, con giống, chân dung. Màu sắc chủ đạo là màu cánh gián tự nhiên, màu đồng hun hoặc màu mận chín.
    • Phương thức truyền nghề: Có sự chuyển dịch từ tập quán khép kín nội bộ dòng họ sang đào tạo cởi mở cho người ngoài và gắn kết với các trường mỹ thuật, lớp thiết kế đồ họa.
Đối tượng truyền nghề Hiện nay (%) Trước năm 2000 (%)
Truyền nghề trong gia đình 68,0 53,6
Chỉ truyền cho con trai, con dâu 17,8 27,2
Không truyền cho người ngoài 2,0 9,7
Truyền nghề cho người học việc 9,6 8,3
Chỉ truyền một phần kinh nghiệm 9,6 2,6
Truyền hết mọi kinh nghiệm 0,7 0,3
  • Biến đổi văn hóa làng nghề:
    • Văn hóa vật chất: Đưa vào sử dụng máy chẻ nan, máy sấy điện, máy phun màu, đánh bóng. Không gian sản xuất chuyển dịch từ mô hình hộ gia đình sang xưởng riêng biệt và doanh nghiệp tư nhân.
Địa điểm sản xuất Hiện nay (%) Trước năm 2000 (%)
Vừa sản xuất, vừa ở 19,4 63,1
Sản xuất và ở riêng 22,2 8,8
Thuê mặt bằng để sản xuất Có xu hướng tăng Thấp
  • Cảnh quan môi trường: Đô thị hóa làm xuất hiện nhiều nhà cao tầng, đường bê tông; tuy nhiên phát sinh ô nhiễm rác thải mây tre, khói hun lò sấy, bụi, nước thải và tiếng ồn.
  • Văn hóa tổ chức và tinh thần: Quan hệ chủ - thợ và mua bán được pháp lý hóa qua hợp đồng kinh tế bằng văn bản thay cho thỏa thuận miệng; các tổ chức đoàn thể (Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Cựu chiến binh) thay thế hệ thống phe giáp xưa; phong tục cưới xin, tang ma được tinh giản các hủ tục (như tục lăn đường, đi chân đất). Mặt trái là sự xuất hiện của cạnh tranh không lành mạnh, chèn ép giá và coi nặng lợi nhuận làm suy giảm đạo đức kinh doanh truyền thống.

Chương 3: Một số vấn đề bàn luận và giải pháp bảo tồn và phát triển văn hóa làng nghề mây tre đan xã Thượng Hiền, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

Trên cơ sở đánh giá điểm mạnh và hạn chế tại Chương 2, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp định hướng:

  • Bàn luận các vấn đề then chốt: Chiến lược phát triển dài hạn; bảo đảm nguồn nhân lực kế cận; đổi mới mẫu mã nhưng không làm mất bản sắc; điều chỉnh phương thức truyền nghề; đẩy mạnh quảng bá gắn với du lịch và kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề.
  • Nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Xây dựng chiến lược phát triển văn hóa làng nghề: Quy hoạch không gian sản xuất tập trung, kết hợp bảo tồn nghề truyền thống với quy hoạch nông thôn mới của UBND xã Thượng Hiền.
    2. Phát triển nguồn nhân lực: Phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và nghệ nhân mở lớp đào tạo nghề cho lao động trẻ; khuyến khích con em theo học các ngành mỹ thuật công nghiệp, thiết kế mẫu mã.
    3. Sáng tạo và cải thiện mẫu mã: Kết hợp kỹ thuật đan truyền thống với công năng hiện đại, tạo ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ trang trí nội thất có giá trị gia tăng cao.
    4. Bảo vệ tập quán truyền nghề: Duy trì việc vinh danh nghệ nhân, ghi nhận công lao trong gia phả và hương ước, thúc đẩy truyền nghề công khai cho cộng đồng.
    5. Truyền thông, quảng bá văn hóa làng nghề: Xây dựng thương hiệu sản phẩm mây tre đan Thượng Hiền trên các phương tiện truyền thông, xúc tiến thương mại và xây dựng mô hình điểm đến du lịch trải nghiệm văn hóa làng nghề.
    6. Nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường: Xử lý rác thải hữu cơ từ tre mây, quy chuẩn hóa hệ thống lò hun khói sấy để giảm thiểu phát tán khí thải và bụi ra khu dân cư.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Khóa luận đã hệ thống hóa lịch sử hơn 200 năm của làng nghề mây tre đan Thượng Hiền, ghi nhận vai trò kinh tế cụ thể: vào thời kỳ phát triển ổn định, sản lượng mặt ghế mây đạt khoảng 500.000 m²/năm; thu nhập của lao động làm nghề đạt 3 - 4 triệu đồng/tháng đối với người làm nông nhàn và lên đến 6 triệu đồng/tháng đối với thợ chuyên nghiệp.
  • Cung cấp số liệu khảo sát thực tế về sự chuyển dịch trong tập quán truyền nghề và tổ chức không gian sản xuất: tỷ lệ giữ nghề khép kín không truyền cho người ngoài giảm từ 9,7% xuống còn 2,0%; tỷ lệ hộ kết hợp nơi ở với sản xuất giảm từ 63,1% xuống 19,4%, trong khi cơ sở sản xuất riêng biệt tăng lên 22,2%.
  • Nhận diện toàn diện các biến đổi văn hóa: sự thay thế của thiết bị cơ khí trong khâu chẻ/sấy, sự suy giảm của hệ thống phe giáp truyền thống, sự chuyển đổi sang hợp đồng kinh tế bằng văn bản và các thách thức về môi trường sống, đạo đức làng nghề trong cơ chế thị trường.

Đóng góp của đề tài do tác giả tự nêu:

  • Đóng góp khoa học: Là công trình khảo sát chuyên sâu đầu tiên tập trung trực tiếp vào giá trị văn hóa và thực trạng bảo tồn văn hóa làng nghề mây tre đan tại xã Thượng Hiền, bổ sung tư liệu thực tiễn cho nghiên cứu văn hóa làng nghề truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp cơ sở thực chứng để UBND xã Thượng Hiền, các cơ quan quản lý văn hóa huyện Kiến Xương và tỉnh Thái Bình xây dựng chính sách hỗ trợ nghệ nhân, quy hoạch không gian sản xuất, kết nối du lịch văn hóa và bảo vệ môi trường làng nghề.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát điền dã thực tế chủ yếu tập trung tại địa bàn thôn Văn Lăng (xã Thượng Hiền) trong khung thời gian 2020 - 2024, chưa bao quát đồng đều toàn bộ 7 thôn của xã.
  • Dữ liệu phỏng vấn tập trung chủ yếu vào các hộ sản xuất quy mô vừa và nhỏ cùng các nghệ nhân cao tuổi, nguồn dữ liệu về doanh nghiệp xuất khẩu quy mô lớn còn ở mức độ khái quát.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang toàn bộ các cụm sản xuất trong xã và các làng nghề mây tre đan lân cận trên địa bàn huyện Kiến Xương.
  • Đi sâu nghiên cứu mô hình phát triển du lịch di sản văn hóa làng nghề và đánh giá chuỗi giá trị thương mại quốc tế của sản phẩm mây tre đan Thượng Hiền trong điều kiện kinh tế số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu tham khảo phù hợp cho:

  • Sinh viên, học viên và nhà nghiên cứu thuộc các ngành: Văn hóa truyền thông, Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Xã hội học nông thôn và Địa lý kinh tế.
  • Phần đáng tham khảo nhất của công trình là Chương 2 với bức tranh chi tiết về quy trình kỹ thuật truyền thống (kỹ thuật hun khói tre, nhuộm màu tự nhiên), hệ thống số liệu khảo sát xã hội học về phương thức truyền nghề, không gian sản xuất và sự biến đổi các thiết chế văn hóa làng xã dưới tác động của Công giáo và kinh tế thị trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Làng nghề mây tre đan Thượng Hiền có nguồn gốc lịch sử từ thời điểm nào và gắn liền với nghệ nhân tiêu biểu nào?
Nghề mây tre đan Thượng Hiền có nguồn gốc từ làng Dưỡng Thông vào thế kỷ XVIII (thời Hậu Lê/Nguyễn). Nghệ nhân tiêu biểu trong lịch sử làng nghề là cụ phó Thơi (được phong hàm Cửu phẩm tại nhà Đấu Xảo Hà Nội và được vua Bảo Đại tặng bức đại tự "Phẩm giá vô đề") và cụ phó Lệ.

2. Người dân Thượng Hiền thực hiện nghi lễ thờ cúng tổ nghề vào thời gian nào và xuất phát từ căn nguyên gì?
Do đa số cư dân theo đạo Công giáo, lễ kính nhớ tổ nghề được kết hợp vào ngày mùng 2 Tết Nguyên Đán cùng với lễ kính nhớ tổ tiên. Nghi lễ này nhằm tri ân người họ Phạm Xuân làng Dưỡng Thông - người có công phát triển và lưu truyền nghề cho hậu thế.

3. Quy trình xử lý chống mối mọt cho nguyên liệu tre tại làng nghề Thượng Hiền được tiến hành như thế nào?
Người thợ sử dụng phương pháp ngâm nước thủ công truyền thống hoặc ngâm hóa chất XM5. Sau đó, tre được cạo vỏ, đánh bóng giấy ráp và đưa vào lò kín để hun khói bằng rơm hoặc lá tre nhằm tách hết chất đường tự nhiên trong tre, ngăn ngừa mối mọt và giúp thanh tre cứng chắc, lên màu đồng đều.

4. Sự biến đổi về địa điểm sản xuất của thợ thủ công làng nghề trước và sau năm 2000 diễn ra như thế nào?
Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng chung một địa điểm vừa sản xuất vừa ở đã giảm từ 63,1% (trước năm 2000) xuống còn 19,4% (hiện nay). Ngược lại, tỷ lệ cơ sở tách biệt nơi sản xuất và nơi ở riêng tăng từ 8,8% lên 22,2%.

5. Sản phẩm mây tre đan Thượng Hiền có những kiểu hoa văn trang trí đặc trưng nào?
Các hoa văn đặc trưng gồm hoa răng cưa, hoa dế, hoa sáu, hoa tết tóc, hoa chanh; các môtip hoa cúc, hoa mai, tứ linh (long, ly, quy, phượng) cùng các tranh phong cảnh, con giống và phong cách đan tranh chân dung hai màu đen - trắng trên bình ủ nước.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Thảo Vân đã phác thảo bức tranh toàn diện về lịch sử hình thành, quy trình kỹ thuật và diện mạo văn hóa của làng nghề mây tre đan xã Thượng Hiền. Thông qua khảo sát điền dã giai đoạn 2020 - 2024, công trình phản ánh rõ nét sự chuyển biến về công cụ, tổ chức sản xuất, tập quán truyền nghề và lối ứng xử trong bối cảnh công nghiệp hóa. Các phân tích về áp lực môi trường và đạo đức làng nghề cùng hệ thống giải pháp đề xuất tại Chương 3 cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn phục vụ công tác quản lý và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương.