Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. THỰC TRẠNG VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ VIỆT NAM 1. Nhận thức chung về làng nghề Việt Nam 1.1 Khái niệm chung Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôm, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau (Thủ tướng Chính phủ, 2006) [75]. Làng nghề Việt Nam đã xuất hiện và phát triển rất phong phú và đa dạng về lịch sử hình thành, về ngành nghề và qui mô.
Cho nên theo lịch sử hình thành và phát triển thì có làng nghề truyền thống và làng nghề mới. Trong nghiên cứu này Làng nghề được hiểu là một cụm dân cư sinh sống trong một làng (thôn, tương đương thôn) thuộc các xã, phường, thị trấn, có hoạt động SXKD các ngành nghề ở từng hộ gia đình hoặc các cơ sở trong làng, sử dụng các nguồn lực trong và ngoài địa phương, SXKD một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau, phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của một bộ phận người dân trong làng. Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền (Thủ tướng Chính phủ, 2006) [75]. Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời, trải qua thử thách của thời gian, vẫn được duy trì, phát triển và được lưu truyền từ đời này sang đời khác (Thủ tướng Chính phủ, 2006) [75].
Mỗi làng nghề truyền thống xưa nay, tự nó đã chứa đựng hai yếu tố chủ yếu: truyền thống nghề nghiệp và truyền thống văn hoá. Nó là nơi hội tụ những thuần phong mỹ tục, đoàn kết cộng đồng, tinh hoa nghề nghiệp, tài năng nghệ nhân, nếp sinh hoạt quần cư. chúng hoà quyện vào nhau làm nên làng nghề truyền thống. 6 Làng nghề mới được hiểu là các làng nghề không phải là làng nghề truyền thống.
Các làng nghề này được hình thành trong thời gian gần đây, chủ yếu xuất phát từ việc tổ chức gia công cho các xí nghiệp lớn, các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu; việc học tập kinh nghiệm của vài hộ gia đình nhạy bén thị trường và có điều kiện đầu tư sản xuất hoặc của các làng nghề lân cận; tự hình thành do nhu cầu mới của thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường nguyên liệu sẵn có trong làng.2 Tiêu chí công nhận làng nghề (i) Tiêu chí công nhận là làng nghề: Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí: (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. (2) Hoạt động SXKD ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. (3) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. (ii) Tiêu chí công nhận là nghề truyền thống: Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí: (1) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận.
(2) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc. (3) Nghề gắn với tên của nghệ nhân hay địa danh của làng nghề. (iii) Tiêu chí công nhận là làng nghề truyền thống: Phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo khái niệm nói trên. Nếu chưa đạt tiêu chuẩn số hộ tối thiểu và số năm tối thiểu như đã quy định tại tiêu chí công nhận làng nghề thì cũng phải có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống (Thủ tướng Chính phủ, 2006) [75].3 Phân loại, đặc trưng của làng nghề Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo 6 dạng như: (1) theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới; (2) theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm; (3) theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ; (4) theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm; (5) theo mức độ sử dụng nguyên/nhiêu liệu; (6) 7 theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008) [7].
Với 6 cách phân loại trên, mỗi cách có những đặc điểm riêng và tùy theo mục đích tiếp cận mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề về đất đai làng nghề thì cách phân loại theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả. Phân loại làng nghề theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm: Theo ngành sản xuất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011) [9], làng nghề được chia thành 8 loại hình như: Loại hình thủ công mỹ nghệ; loại hình gia công cơ kim khí; loại hình tái chế chất thải; loại hình chế biến lương thực, thực phẩm; loại hình dệt nhuộm, thuộc da; loại hình sản xuất vật liệu xây dựng; loại hình chăn nuôi; loại hình khác còn lại. Theo sản phẩm đầu ra (Nguyễn Trí Dĩnh, 2005) [21], làng nghề được chia thành các nhóm như: nhóm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ (khảm gỗ, vàng bạc, thêu thùa); nhóm phục vụ sản xuất và đời sống (nghề mộc, đúc đồng, sản xuất vật liệu xây dựng); nhóm sản xuất hàng tiêu dùng thông thường (khâu nón, dệt chiếu); nhóm chế biến lương thực, thực phẩm (xay xát, nấu ruợu, làm bánh).4 Số lượng làng nghề Việt Nam Cho đến nay, tuy đã có số liệu thống kê về số lượng, loại hình của các làng nghề, làng nghề truyền thống và làng có nghề cũng như mật độ và phân bố trên quy mô toàn quốc nhưng chưa đầy đủ, chưa thống nhất và toàn diện do tiêu chí công nhận làng nghề tại các địa phương chưa thống nhất, thời điểm thống kê, phương pháp thống kê còn khác nhau.
(i) Theo kết quả Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công phục vụ CNH nông thôn Việt Nam của Bộ NN&PTNT và JICA [3] với tiêu chí hơn 20% số hộ trong làng tham gia sản xuất nghề được gọi là làng nghề thì Việt Nam có 2.017 làng nghề (bảng 1.1: Số lượng làng nghề theo hai loại tiêu chí xác định làng nghề Số làng nghề Số tỉnh có Có trên 50% số Có trên 20% số Vùng làng nghề hộ làm nghề phi hộ làm nghề phi nông nghiệp nông nghiệp Đồng bằng Sông Hồng 11 280 866 Đông bắc 11 56 164 Tây bắc 4 8 247 Bắc Trung bộ 6 98 341 Nam Trung bộ 6 44 87 Tây Nguyên 4 0 0 Đông Nam bộ 9 38 101 Đồng bằng sông Cửu Long 13 86 211 Cả nước 64 610 2017 Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2004 [3] Bảng 1.2: Địa phương có nhiều làng nghề nhất theo vùng Có trên 50% số hộ làm Có trên 20% số hộ làm Vùng nghề phí nông nghiệp nghề phí nông nghiệp Tên tỉnh Số lượng Tên tỉnh Số lượng Đồng bằng Sông Hồng Thái Bình 63 Hà Tây cũ 409 Đông bắc Bắc Giang 6 Bắc Giang 21 Tây bắc Sơn La 4 Sơn La 191 Bắc Trung bộ Thanh Hóa 64 Thanh Hóa 201 Nam Trung bộ Bình Định 16 Quảng Nam 30 Đông Nam bộ Bình Thuận 11 TPHCM 39 Đồng bằng sông Cửu Long An Giang 27 Vĩnh Long 40 Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2004 [3] 9 (ii) Theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2006 (Tổng cục Thống kê, 2006) [82], với tiêu chí có tối thiểu 30% tổng số hộ trong làng tham gia sản xuất nghề và hoạt động SXKD ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận được gọi là làng nghề, thì Việt Nam có 1.091 làng nghề, trong đó làng nghề truyền thống là 965 làng (chiếm 88.3: Tổng hợp số làng nghề và số xã có làng nghề theo vùng và cả nước Xã có làng nghề Làng nghề Vùng Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Truyền Tỷ lệ xã (%) làng (%) thống (%) 1. Đồng bằng sông Hồng 380 19,67 629 57,10 580 92,21 2. Vùng Đông Bắc 28 1,52 42 3,89 30 71,42 3. Vùng Tây Bắc 1 0,18 1 0,09 1 100,00 4.
Bắc Trung Bộ 125 7,62 181 16,81 149 82,32 5. DH Nam Trung Bộ 65 9,29 93 8,63 81 81,82 6. Đông Nam Bộ 22 3,49 26 2,41 19 73,08 8. ĐB sông Cửu Long 89 6,93 112 10,39 98 87,50 Cả nước 716 7,74 1.091 100,00 965 85,15 Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2006 [82] (iii) Theo số liệu điều tra mới nhất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011) [9], tính đến tháng 7 năm 2011 thì tổng số làng nghề và làng có nghề trên toàn quốc là 3.262 làng nghề đã được công nhận và 2.093 làng có nghề chưa được công nhận (bảng 1.4: Số lượng làng nghề được công nhận, làng có nghề Làng nghề Làng có nghề chưa Vùng được công nhận được công nhận 1.
Đồng bằng sông Hồng 758 911 2. Miền Núi và Trung du Bắc bộ 126 217 3. Bắc Trung Bộ 127 549 4. Duyên hải Nam Trung Bộ 93 121 5.
Đông Nam Bộ 1 72 7. Đồng bằng sông Cửu Long 155 201 1.355 Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011 [9] 1. Xu thế phát triển của làng nghề Việt Nam 1.1 Về sự phân bố của các làng nghề ở Việt Nam (i) Các làng nghề ở nước ta chủ yếu tập trung tại những vùng nông thôn, vì vậy, khái niệm làng nghề luôn được gắn với nông thôn. Tuy nhiên, hiện nay do xu thế đô thị hóa, nhiều khu vực nông thôn đã trở thành đô thị, nhưng vẫn duy trì nét sản xuất văn hóa truyền thống, chính điều này đã tạo ra “lỗ hổng” trong chính sách phát triển và hành lang pháp lý về quản lý làng nghề.
Trên bình diện cả nước, làng nghề phân bố không đồng đều giữa các vùng, miền. Tính chất của làng nghề theo vùng, miền cũng không giống nhau. Làng nghề tập trung nhiều nhất ở miền Bắc, chiếm khoảng 60%, trong đó Đồng bằng sông Hồng chiếm khoảng 50%, chủ yếu tập trung tại các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định,…; ở miền Trung chiếm khoảng 23,6%, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế…; miền Nam chiếm khoảng 16,4%, tập trung chủ yếu tại các tính Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ… Về loại hình sản xuất cũng rất đa dạng, được phân thành 08 nhóm ngành nghề (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011) [9] (hình 1. 11 Loại hình khác, 25% Loại hình chế biến lương thực, thực phẩm, 24% Loại hình thủ công mỹ nghệ, 1% Loại hình dệt nhuộm, thuộc da, 5% Loại hình tái chế chất thải 37% Loại hình sản xuất vật Loại hình chăn liệu xây dựng, 3% nuôi, 1% Loại hình gia công cơ kim khí, 4% Hình 1.