Chương 1: Nghề thêu ren An Hòa đầu những năm đổi mới (1986- 1995) Chương 2: Sự phát triển của nghề thêu ren An Hòa trong những năm 1996-2010 Chương 3: Một số nhận xét về nghề thêu ren An Hòa và kiến nghị giải pháp 12 z Chƣơng 1 NGHỀ THÊU REN AN HÒA ĐẦU NHỮNG NĂM ĐỔI MỚI (1986- 1995) 1.1 Khái quát về nghề thêu ren An Hòa trƣớc đổi mới Một số khái niệm về nghề và làng nghề truyền thống Khái niệm làng nghề truyền thống Theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng thì làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông (nông dân). Nhưng yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng nghề truyền thống ngay tại làng quê của mình… [39, tr.13] Làng nghề truyền thống là làng nghề có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, sản phẩm có tính truyền thống, có uy tín trên thị trường, có giá trị kinh tế và văn hóa cao.28] Như vậy, có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về làng nghề truyền thống như sau: làng nghề truyền thống là những làng (thôn) có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chủ yếu.
Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này sang đời khác, thường là nhiều thế hệ. Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và trở thành hàng hóa trên thị trường.15] Ở Hà Nam, để được công nhận là làng nghề truyền thống thì phải đảm bảo các điều kiện sau: 13 z - Chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương. - Số lao động của làng làm nghề truyền thống có ít nhất 30% tổng số lao động của làng.
- Giá trị sản xuất của làng nghề chiếm tỷ trọng trên 50% so với tổng giá trị sản xuất của làng.28] Năm 2004, làng nghề thêu ren An Hòa đã được UBND Tỉnh Hà Nam công nhận là làng nghề truyền thống theo quyết định số 208/QĐ- UB ngày 09/02/2004 với các tiêu chí như: hoạt động sản xuất nghề thêu ren có lịch sử hình thành và phát triển hơn 100 năm (1893). Số lao động tham gia làm nghề thêu ren của làng An Hòa chiếm 95% và trên 90% số hộ trong làng. Giá trị sản xuất của làng nghề chiếm tỷ trọng trên 70% so với tổng giá trị sản xuất hàng hóa của làng. Làng An Hòa luôn chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các quyết định, sự chỉ đạo của địa phương.
Khái niệm nghề truyền thống Nghề thủ công ra đời từ thưở bình minh của lịch sử loài người, khi mà con người có nhu cầu về ăn, mặc, ở và những vật dụng cho cuộc sống. Từ thưở ban đầu ấy, tất cả vật dụng đều đơn giản, thô sơ. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nghề thủ công vẫn trường tồn cùng lịch sử dân tộc và tiếp tục phát triển cả về sau này. Nghề thủ công có nhiều tên gọi khác như: nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề phụ, nghề tiểu thủ công nghiệp… bao gồm rất nhiều nghề: chạm khắc gỗ, làm bánh dày, làm mây tre đan, làm nón, khảm trai, dệt lụa, thêu, kim hoàn, làm quạt giấy….
Theo Thông tư số 116/2006 TT- BNN trong phần giải thích từ ngữ thì: Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ mai 14 z một, thất truyền. Để trở thành một nghề thủ công truyền thống cần có những tiêu chí sau: nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm, nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc, nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi làng nghề. Nghề thêu ren ở An Hòa được coi là nghề thủ công truyền thống với đầy đủ các tiêu chí của một nghề truyền thống như: có lịch sử hình thành và phát triển hơn 100 năm (nghề đã xuất hiện tại địa phương từ năm 1893), sản xuất tập trung không chỉ tạo thành làng nghề mà còn hình thành xã nghề, nghề gắn với tên tuổi của nhiều nghệ nhân và tên tuổi làng nghề; sản phẩm tiêu biểu và độc đáo mang bản sắc văn hóa dân tộc; là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp đáng kể vào ngân sách địa phương. Cũng giống như bao làng nghề truyền thống ở Việt Nam, nghề thêu ren An Hòa gắn liền với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương.1 Khái quát về làng An Hòa Về điều kiện tự nhiên Xã Thanh Hà là một xã đồng bằng thuộc châu thổ sông Hồng nằm ở vị trí trung tâm huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, là địa bàn giáp ranh của 5 xã và 1 thành phố.
- Phía Đông giáp xã Liêm Tiết và xã Liêm Cần - Phía Nam giáp xã Thanh Phong và xã Thanh Lưu - Phía Tây giáp xã Thanh Tuyền - Phía Bắc giáp thành phố Phủ Lý Thanh Hà nằm trong khu vực có địa hình thấp, trũng của huyện Thanh Liêm, là xã đồng bằng có địa hình tương đối bằng phẳng. 15 z Làng nghề thêu ren An Hoà thuộc xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam có vị trí địa lý khá thuận lợi trong việc lưu thông hàng hoá: nằm gần trung tâm huyện Thanh Liêm, có đường Quốc lộ 1A và đường liên huyện chạy dọc theo chiều dài xã, cách đường Quốc lộ 21A và thị xã Phủ Lý 3 km về phía Nam (trung tâm tỉnh Hà Nam), cách thủ đô Hà Nội khoảng 63 km về phía Nam. Vì vậy, có thể thấy An Hòa có nhiều lợi thế để phát triển sản xuất và giao lưu trao đổi hàng hóa. Khí hậu xã Thanh Hà nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên có đầy đủ các đặc trưng của khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng, đó là nhiệt đới gió mùa và được chia làm 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.
Nhiệt độ trung bình năm là 240C, nhiệt độ cao nhất lên đến 39,80C. Chế độ mưa ở Thanh Hà thay đổi nhiều trong năm, tổng lượng mưa trung bình trong năm là 1582mm, độ ẩm trung bình năm khoảng 82,42%. Đặc điểm khí hậu đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng và trồng được nhiều vụ trong năm. Tuy nhiên, xã cũng gặp một số khó khăn do độ ẩm không khí quá cao làm phát sinh nhiều loại sâu bệnh, dịch bệnh.
Đất đai, địa hình thổ nhưỡng Tổng diện tích đất tự nhiên là 127,28 ha, trong đó đất nông nghiệp là 85,67 ha, diện tích đất phi nông nghiệp là 41,61 ha (diện tích đất ở: 15,26 ha, diện tích đất chuyên dùng: 22,54 ha.), diện tích nông nghiệp bình quân/đầu người là 432m2. Tuy nhiên, hiện nay diện tích đất nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm, nguyên nhân là do quá trình đô thị hóa chuyển mục đích đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng (trong khi đó dân số lại tăng ở mức cao 2%/năm). Nên lao động dư thừa từ nông nghiệp rất lớn và tăng nhanh, đó là 16 z một trong những nguyên nhân chính thúc đẩy sự phát triển của nghề thêu ren truyền thống. Điều kiện kinh tế - xã hội An Hòa là một thôn đông dân, theo số liệu thống kê năm 2010 thì An Hòa có 557 hộ gồm 2237 nhân khẩu, trong đó có 1.
Phân bố dân số tập trung theo 4 xóm, 100% số hộ trong làng theo đạo Phật. Tổng diện tích canh tác là 85 ha, lao động nông nghiệp vẫn giữ tỷ trọng khá cao trong cơ cấu lao động. Làng An Hòa có nghề truyền thống thêu ren xuất khẩu rất phát triển, giải quyết được việc làm cho hàng ngàn lao động mỗi năm góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Số hộ trong làng tham gia làm nghề thêu ren chiếm tỷ lệ 96%, số hộ còn lại làm nghề mộc, nề, cơ khí, say sát, vận chuyển, buôn bán dịch vụ thương mại, ăn uống giải khát.
Qua bao thăng trầm, nhờ có nghề thêu ren phát triển mà An Hòa đã trở thành làng có tổng thu ngân sách cao nhất xã Thanh Hà. Làng An Hoà là trung tâm phát triển kinh tế của xã Thanh Hà, năm 2010 mức thu nhập bình quân của người lao động làm thêu cao nhất xã 850.000 đồng/người/tháng, đạt 10,2 triệu đồng/người/năm. An Hòa được mệnh danh là làng tỷ phú vì có nhiều người giàu lên nhờ sản xuất, kinh doanh hàng thêu ren như ông Lê Công Kha, Nguyễn Xuân Thường, Lê Tiến Thăng…. An Hòa là làng dẫn đầu trong toàn xã đặc biệt về xây dựng cơ sở hạ tầng tập thể và hộ gia đình toàn diện, phong phú và có nhiều công trình lớn như đình An Hòa.
Chương trình xóa đói giảm nghèo đem lại hiệu quả tích cực, hộ khá và giàu tăng lên, cơ bản xóa đói, phong trào xóa nhà tranh trong thôn đã hoàn thành cách đây 10 năm, tỷ lệ hộ nghèo trong làng giảm xuống còn 3%. Tính đến năm 2010, trong làng số hộ có nhà mái bằng chiếm tỷ lệ 56%, trong đó số hộ có nhà 2 tầng trở lên là 15%. Số hộ dùng điện thoại cố định và di động 17 z chiếm tỷ lệ 35%, trong thôn có 200 xe máy, 2 ô tô, 5 xe công nông, 100% số hộ có ti vi và rađiô cát sét, trang thiết bị như giường tủ, salông, tủ lạnh, điều hòa… hầu hết các hộ trong làng đều mua sắm đầy đủ. Hệ thống giao thông nông thôn 100% được bê tông hóa; hệ thống công trình phúc lợi như nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà văn hóa, trường học đều được xây dựng mái bằng đủ tiêu chuẩn của Bộ đại học và trung học quy định.
Các năm đều được UBND tỉnh công nhận là làng văn hóa. Các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước như thuế, nghĩa vụ phúc lợi, công ích, công tác tuyển quân, phong trào xây dựng quỹ tình nghĩa, người tàn tật, quỹ vì người nghèo, quỹ khuyến học. và các phong trào đoàn thể quần chúng đều dẫn đầu trong toàn xã.