Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về cổ phần hoá doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về cổ phần hoá doanh nghiệp ở Quảng Ninh. Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về cổ phần hoá doanh nghiệp ở tỉnh Quảng Ninh. 6 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về cổ phần hoá doanh nghiệp 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần 1. Doanh nghiệp nhà nước Khái niệm Doanh nghiệp nhà nƣớc là tổ chức kinh tế do Nhà nƣớc sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối đƣợc tổ chức dƣới hình thức công ty Nhà nƣớc, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Doanh nghiêp nhà nƣớc là doanh nghiệp một chủ trong trƣờng hợp nhà nƣớc sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (tức sở hữu 100%). Doanh nghiệp nhà nƣớc nhiều chủ sở hữu trong trƣờng hợp có cổ phần, vốn góp chi phối có tỉ lệ trên 50% và dƣới 100%.
Đặc điểm - Chủ đầu tư: Là Nhà nƣớc hoặc Nhà nƣớc cùng với các tổ chức, cá nhân khác. - Sở hữu vốn: Nhà nƣớc sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (100%) hoặc sở hữu phần vốn góp chi phối (trên 50% nhƣng dƣới 100% vốn điều lệ). - Hình thức tồn tại: Doanh nghiệp nhà nƣớc có nhiều hình thức tồn tại. Nếu doanh nghiệp nhà nƣớc do nhà nƣớc sở hữu 100% vốn điều lệ thì có các loại hình doanh nghiệp nhƣ: công ty nhà nƣớc, công ty cổ phần nhà nƣớc, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nƣớc một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nƣớc.
Nếu doanh nghiệp do nhà nƣớc sở hữu trên 50% vốn điều lệ thì có thể tồn tại dƣới các loại hình doanh nghiệp sau: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn - Trách nhiệm tài sản: Doanh nghiệp nhà nƣớc chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của doanh nghiệp. Nhà nƣớc chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Vai trò Thứ nhất, DNNN có vai trò chi phối các lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa quyết 7 Luan van định đối với sự ổn định và phát triển đất nƣớc. Thứ hai, DNNN là động lực cho sự phát triển của các doanh nghiệp khác thông qua hiệu quả hoạt động cao trên nền của sản xuất hiện đại và hệ thống quản lý tiên tiến.
Thứ ba, DNNN là nguồn lực vật chất chủ yếu của nhà nƣớc. DNNN phải tạo ra sự đóng góp quyết định của NSNN. Thứ tư, DNNN là mẫu mực trong việc giải quyết các vấn đề chính sách xã hội nhƣ giải quyết việc làm, trợ cấp xã hội. Công ty cổ phần Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp ra đời từ thế kỷ XVI ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển.
Đến nay đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm. Công ty cổ phần là một kiểu doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng và cùng song song tồn tại với nhiều loại hình doanh nghiệp khác. Khái niệm Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông, số vốn do tất cả các thành viên góp vào và ghi vào điều lệ công ty đƣợc gọi là vốn điều lệ, Công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn điều lệ. Vốn điều lệ đƣợc chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Giá trị mỗi cổ phần là một cổ phiếu. Pháp nhân hoặc cá nhân sở hữu một hay nhiều cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số cổ phần của mình và cổ đông đƣợc tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình thông qua việc mua, bán cổ phiếu. Ở nƣớc ta, theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, ngày 26/11/2014, [1] thì: Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó a.
Vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; c. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình cho ngƣời khác, trừ Cổ đông sở hữu cổ phần biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập chỉ đƣợc chuyển nhƣợng sau thời hạn 3 năm kể từ khi ngày Công ty cổ phần đƣợc cấp giấy 8 Luan van chứng nhận đăng ký kinh doanh; d. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lƣợng tối đa; e.
Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán; g. Công ty cổ phần có tƣ cách pháp nhân kể từ ngày đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đặc điểm - Về mặt pháp lý: Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh có tƣ cách pháp nhân mà vốn kinh doanh do nhiều ngƣời đóng góp. Các cổ đông, ngƣời góp vốn cho công ty chỉ có trách nhiệm pháp lý hữu hạn trong phần vốn góp của mình, nghĩa là các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm các khoản nợ của công ty trong phạm vi số tiền mà họ bỏ ra.
Trong trƣờng hợp công ty bị phá sản thì họ cũng chỉ mất số tiền đã đầu tƣ vào công ty mà thôi, không chịu trách nhiệm vô hạn nhƣ hình thức kinh doanh một chủ hoặc chung vốn. Điều này cho phép Công ty có cơ sở pháp lý đầy đủ để huy động những lƣợng vốn nằm rải rác thuộc nhiều tổ chức và cá nhân trong xã hội. - Về mặt huy động vốn: Về điểm này, Công ty cổ phần đã giải quyết hết sức thành công. Bởi vì số tiền nhỏ của nhiều gia đình, các nhân.
Nếu để riêng thì không đủ thành lập một doanh nghiệp nhỏ, và do đó không thể đem ra kinh doanh đƣợc. Công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho họ có cơ hội đầu tƣ một cách có lợi và an toàn những khoản vốn đó, do: + Việc mua cổ phiếu không những đem lại cho cổ đông lợi tức cổ phần (bằng và cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng) mà còn hứa hẹn mang đến cho cổ đông một khoản thu nhập “ngầm” nhờ việc gia tăng trị giá cổ phiếu khi công ty làm ăn có hiệu quả. + Các cổ đông có quyền tham gia quản lý theo điều lệ công ty và đƣợc pháp luật đảm bảo, điều này làm cho quyền sở hữu của cổ đông trở nên cụ thể và có sức hẫp dẫn hơn. 9 Luan van + Cổ đông có quyền đƣợc ƣu đãi trong việc mua những cổ phiếu mới phát hành của công ty trƣớc khi đem bán rộng rãi cho công chúng.
Vai trò của Công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị trƣờng, có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ chế thị trƣờng, cụ thể: - Do quan hệ sở hữu trong công ty cổ phần là thuộc về các cổ đông nên quy mô sản xuất có khả năng đƣợc mở rộng to lớn và nhanh chóng, mà không cá nhân riêng lẻ nào có thể thực hiện đƣợc, bởi vì kiểu tích tụ dựa vào cá nhân riêng lẻ sẽ khó khăn và thực hiện chậm, còn tập trung tích tụ theo kiểu nhƣ công ty cổ phần bằng cách thu hút đƣợc các nguồn vốn của đông đảo các nhà đầu tƣ và của quảng đại quần chúng, lại cho phép tăng quy mô lên rất nhanh. Mác đã đánh giá vai trò này của Công ty cổ phần nhƣ sau: " Nếu cứ phải đợi cho đến khi tích luỹ làm cho một số nhà tƣ bản riêng lẻ lớn đến mức có thể đảm đƣơng việc xây dựng đƣờng sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn chƣa có đƣờng sắt. Ngƣợc lại, qua Công ty cổ phần sự tập trung đã thực hiện việc đó trong nháy mắt". - Vốn huy động dƣới hình thức Công ty cổ phần khác với vốn cho vay trên cơ sở tín dụng bởi nó không cho vay hƣởng lãi mà là kiểu đầu tƣ chịu mạo hiểm và rủi ro.
Cho nên Công ty cổ phần có thể tồn tại đƣợc ngay cả trong trƣờng hợp chúng chỉ đem lại lợi tức. - Công ty cổ phần có thời gian tồn tại là vô hạn (nếu không quy định thời hạn hoạt động và loại trừ trƣờng hợp bị phá sản) vì vốn góp cổ phần có sự độc lập nhất định đối với cổ đông. Cổ đông không đƣợc rút vốn cổ phần dƣới bất cứ hình thức nào (trừ trƣờng hợp Cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại Công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ Công ty có quyền yêu cầu Công ty mua lại cổ phần của mình) mà chỉ có quyền sở hữu cổ phiếu. Các cổ phiếu có thể đƣợc tự do mua bán trên thị trƣờng và đƣợc quyền thừa kế.
Vì vậy, khác với các loại hình công ty khác, vốn cổ phần đƣợc góp tồn tại với quá trình “sống” của công ty, còn chủ sở hữu có thể thay đổi. 10 Luan van - Trong Công ty cổ phần, chức năng của vốn tách rời quyền sở hữu của nó, nên đã cho phép sử dụng các nhà quản lý chuyên nghiệp. Công ty cổ phần có thể thuê giám đốc trên cơ sở hợp đồng của Hội đồng quản trị (đại diện chủ sở hữu). Quy định quá chặt chẽ quyền và trách nhiệm của giám đốc sẽ giảm bớt tính năng động, sáng tạo, linh hoạt trong quản lý do vậy sẽ giảm bớt hiệu quả kinh doanh nhƣng lại có ảnh hƣởng tốt đến lơị ích của chủ sở hữu.
- Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù: Chế độ trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ trong mức vốn của công ty là san sẻ rủi ro cho các chủ nợ khi công ty bị phá sản. Vốn tự có của công ty thông qua phát hành cổ phiếu là vốn của nhiều cổ đông khác nhau, do đó san sẻ rủi ro cho nhiều cổ đông. Chính vì cách thức huy động vốn của công ty cổ phần nhƣ vây đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tƣ tài chính có thể mua cổ phiếu, trái phiếu của các công ty ở nhiều ngành khác nhau để giảm bớt tổn thất khi bị phá sản so với việc đầu tƣ tài chính vào một hay một số công ty của cùng một ngành.