Chương 1: Lý luận cơ bản về Quỹ tín dụng nhân dân và các rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay Chương 2: Thực trạng rủi ro trong cho vay của các Qũy tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp (2014 – 2016) Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro cho vay tại các Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 8. Đóng góp của đề tài Góp phần hệ thống những lý luận cơ bản về các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của các QTDND. Thông qua kết quả phân tích, đánh giá về thực trạng rủi ro hoạt động cho vay tại các QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, rút ra được những hạn chế, rủi ro còn tồn tại, tiềm ẩn, từ đó đưa ra những nguyên nhân của hạn chế đó và đề xuất các giải pháp thiết thực, hiệu quả góp phần hạn chế rủi rotín dụng trong hoạt động cho vay, nâng cao chất lượng hoạt động cho vay để hoạt động cho vay tại các QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói riêng và hệ thống các QTDND nói chung đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững. z 1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN VÀ CÁC RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY 1.
Quỹ tín dụng nhân dân 1.1 Khái niệm, tính chất và mục tiêu hoạt động 1.1 Khái niệm Phong trào Hợp tác xã (HTX) nói chung và HTX tín dụng nói riêng khởi phát từ cuối thế kỷ XIX ở Châu Âu và lan rộng trên phạm vi toàn thế giới. Ngày nay, HTX hoạt động và phát triển mạnh trong nhiều lĩnh vực khác nhau ở các nước trên thế giới. Chính phủ các nước thừa nhận công khai sự đóng góp đặc biệt cả về số lượng và chất lượng của phong trào HTX đối với kinh tế và xã hội của đất nước, thông qua việc phục vụ nhu cầu của các TV (TV) và cộng đồng, góp phần vào phát triển đất nước, giảm nghèo, tạo việc làm, phát triển cộng đồng và nông thôn, phát triển xã hội, HTX cũng là ví dụ điển hình của việc quản lý một cách dân chủ, góp phần tạo ra sự bình đẳng, công bằng xã hội và dân chủ. Để củng cố và tổ chức lại hoạt động các TCTD hợp tác, nhằm huy động vốn trong nhân dân góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển.
Ngày 27/07/1993 Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành Quyết định số 390/TTg về việc thí điểm thành lập QTDND. Các QTDND được thành lập theo Quyết định này hoạt động theo Quy chế tổ chức và hoạt động do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt nam (NHNN VN) ban hành tại Quyết định số 155/QĐ.NH17 ngày 16/08/1993 và Thông tư 04/2015/TT-NHNN ngày 31/3/2015. Vậy, theo Luật Tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010 định nghĩa: “QTDND là TCTD do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức HTX để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật HTX nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.2 Tính chất hoạt động Tính chất hoạt động của QTDND được thể hiện rõ đó là một pháp nhân được thành lập trên cơ sở tự nguyện và là một loại hình TCTD được làm một số nghiệp z 2 vụ ngân hàng thương mại theo quy định, cho vay TV trên cơ sở tín nhiệm với nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi một cách vô điều kiện.3 Mục tiêu hoạt động Mục tiêu hoạt động theo quy định tại Điều 2 của Nghị định số 48/2001/NĐ- CP, ngày 13 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Qũy tín dụng nhân dân có ghi rõ: “QTDND là loại hình TCTD hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các TV, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng TV giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động của QTDND phải bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển.” QTDND được thành lập và hoạt động theo Luật HTX, Luật các TCTD và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Quy chế tổ chức và hoạt động do Thống đốc NHNN VN ban hành. Trong hoạt động, QTDND phải bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển. Để thực hiện được mục tiêu tương trợ, giúp đỡ nhau giữa các TV, cũng như bảo toàn được nguồn vốn và có tích luỹ để phát triển, các QTDND đã huy động vốn trong TV và người dân trên địa bàn, cho các TV vay vốn (ngắn hạn, trung và dài hạn) để phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và tiêu dùng, đã giúp TV cải thiện, nâng cao đời sống, nhiều hộ gia đình thoát nghèo, làm ăn phát triển; từng bước đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn.2 Nguyên tắc tổ chức Tự nguyện: mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân và các đối tượng khác có đủ điều kiện theo quy định đều có thể trở thành TV QTDND. TV có quyền ra khỏi QTDND theo quy định của điều lệ QTDND.
Dân chủ, bình đẳng và công khai: TV QTDND có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát QTDND và có quyền ngang nhau trong biểu quyết. z 3 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: QTDND tự chủ và tự chiọu trách nhiệm về lết quả hoạt động kinh doanh của mình, tự quyết định về phân phối thu nhập,đảm bảo thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các khoản lỗ của QTDND , lãi được trích một phần vào các quỹ của QTDND, một phần chia theo vốn góp và công sức đóng góp của TV, phần còn lại chia cho TV theo mức độ sử dung dịch vụ của QTDND. Hợp tác và phát triển cộng đồng: TV phải phát huy tinh thần xây dựng tập thể và hợp tác với nhau trong QTDND, trong cộng đồng và xã hội, hợp tác ra các QTDND ở trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật.3 Vai trò, chức năng của Qũy tín dụng nhân dân 1.1 Vai trò Hệ thống QTDND có quy mô hoạt động rất nhỏ so với các ngân hàng thương mại nhưng hoạt động của hệ thống này vẫn tồn tại, phát triển tốt, ngày càng thu hút đông đảo TV và nhận được sự ủng hộ các cấp chính quyền là do mục tiêu hoạt động và đặc biệt là vai trò của hệ thống QTDND đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn và đây chính là điểm quyết định, đảm bảo cho sự tồn tại, hoạt động ngày càng hiệu quả của các QTDND. Với mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các TV thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống, vì vậy, vai trò của QTDND có ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển của kinh tế, xã hội ở địa phương, cụ thể: - Tương trợ TV góp phần phát triển kinh tế, xã hội địa phương: QTDND thu hút các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mọi tầng lớp dân cư, của mọi tổ chức để tập trung thành một khối lượng vốn tín dụng ngày càng nhiều, nhằm cung ứng cho các nhu cầu vay vốn trong nội bộ TV của mình.
Ngoài việc tự tạo vốn bằng góp vốn xác lập tư cách TV và vốn góp thường xuyên của TV, huy động tiền gửi, QTDND còn có khả năng tiếp nhận các nguồn vốn khác, như: đi vay, nhận vốn ủy thác… để mở rộng quy mô và khối lượng cung ứng vốn tín dụng phục vụ TV. Tổ chức cho vay vốn đối với TV của mình, góp phần trợ giúp TV phát triển sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, cải thiện đời sống và tham gia tích cực vào việc thực hiện z 4 chương trình giảm nghèo tại địa phương, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, thu nhập, ổn định đời sống cho các TV. - Cung cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng: Bên cạnh hoạt động tín dụng, QTDND từng bước thực hiện các dịch vụ ngân hàng hiện đại khác, trước hết là làm trung gian thanh toán, dịch vụ chuyển tiền,. làm các dịch vụ tài chính khác ở nông thôn gắn với quy mô, thực lực trong quá trình phát triển, nhằm phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của TV.
- Thông qua chức năng trung gian tín dụng, QTDND trực tiếp xây dựng khối đoàn kết, tương trợ cộng đồng; góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tệ cho vay nặng lãi; góp phần tích cực vào việc ổn định thị trường tiền tệ, góp phần bảo đảm công bằng xã hội. - QTDND đóng góp một cách đáng kể các khoản thuế hàng năm cho ngân sách địa phương, trực tiếp tham gia vào các chương trình phát triển kinh tế xã hội ở xã phường, hỗ trợ đắc lực nhất cho các hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách kịp thời, tạo ra nhiều việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. - Góp phần cùng Nhà nước thực hiện chính sách nông nghiệp, nông thôn và nông dân, thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.2 Chức năng - Chức năng trung gian tài chính + Khi thực hiện chức năng trung gian tài chính, QTDND đóng vai trò là "cầu nối" giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, QTDND hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế.
+ Với chức năng trung gian tài chính, QTDND đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền, QTDND và người đi vay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của mình dưới hình thức lãi tiền gửi mà QTDND trả cho họ. Hơn nữa, QTDND còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi bằng bảo hiểm tiền gửi. Đối với người đi vay, họ sẽ thoả mãn được nhu cầu vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.
Đối với QTDND, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận cho mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi. Lợi nhuận này để bù đắp các chi phí hoạt động và đảm bảo duy trì sự tồn tại và phát triển của các QTDND theo đúng mục tiêu, tôn chỉ hoạt động của mình.