chương 1 trên cơ sở thu thập, xử lý thông tin và xin ý kiến chuyên gia nhằm tổng hợp và phân tích và đánh giá thực trạng các nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng ở thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Qua đó giúp đưa ra các giải pháp để thực hiện tốt phát triển kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng của thành phố Châu Đốc tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay. Đóng góp của luận văn Luận văn được nghiên cứu thành công sẽ góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng trên 8 Luan van địa bàn thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là một trong những cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách cũng như xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng trên địa bàn thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay.
Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận luận văn và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương như sau: - Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng; - Chương 2. Thực trạng phát triển kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng của thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; - Chương 3. Quan điểm, giải pháp phát triển kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng của thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay; 9 Luan van PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ KẾT HỢP VỚI NHIỆM VỤ QUỐC PHÕNG 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Kinh tế và vai trò của phát triển kinh tế đối với xã hội 1. Kinh tế và phát triển kinh tế Thực ra có rất nhiều quan niệm về “kinh tế”, nhưng chưa có quan niệm nào thể hiện đầy đủ về thuật ngữ “kinh tế” này. Trong bài viết về “Kinh tế tri thức ở Việt Nam”, của giáo sư Hồ Tú Bảo, tạp chí Tia sáng đăng ngày 20 tháng 7 năm 2010 có đưa ra quan điểm “Theo một định nghĩa được thừa nhận rộng rãi, kinh tế là toàn bộ các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của một cộng đồng hay một quốc gia”.
Trong xã hội hiện nay, khái niệm kinh tế vẫn chưa có một cách nhìn thống nhất, hay là một chuẩn mực nhất định. Có thể hiểu một cách cơ bản rằng, kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có hạn. Khái niệm kinh tế đề cập đến các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Nói cách khác, kinh tế có nghĩa là: “Dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có và hạn hẹp, con người và xã hội loài người tìm cách trả lời 3 câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai?” Theo quan niệm của ngành luật hành chính thì “Kinh tế là tổng thể (hoặc một bộ phận) các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, và các quan hệ vật chất giữa con người với con người trong quá trình sản xuất xã hội mà cốt lõi là vấn đề sở hữu và vấn đề lợi ích” [2].
10 Luan van Theo quan niệm của ngành kinh tế học thì “Kinh tế nói chung, là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn”. Dù quan niệm khác nhau về kinh tế, nhưng các quan niệm đều thể hiện kinh tế là “tổng thể” hoặc “tổng hòa” các yếu tố sản xuất hay các mối quan hệ liên quan trực tiếp đến việc sản xuất để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của con người trong một xã hội. Như vậy, có thể hiểu “Kinh tế là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ (tài sản) của xã hội trong một thời gian nhất định, được quy ra thành một đơn vị tính là tiền hoặc phần trăm (%) làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá, điểu chỉnh các nguồn lực để tiếp tục tạo ra tài sản cho xã hội”. Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định, “Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật [3, tr.
Như vậy, một cách chung nhất “Phát triển kinh tế là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trưởng bền vững về kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống”. Vai trò của phát triển kinh tế đối với xã hội Xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa. Xã hội muốn tồn tại thì đòi hỏi phải có sự lao động của tập thể hay nhóm người để sản xuất ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người, vì sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người nói riêng, của xã hội loài người nói chung; đó là quá trình hoạt động có mục đích và không ngừng sáng tạo của con người.
Trong quá trình đó, con người sử dụng công cụ lao động tác động trực tiếp 11 Luan van hoặc gián tiếp vào đối tượng lao động nhằm tạo ra của cải vật chất để thỏa mãn nhu cầu của mình. Và con người thông qua việc sản xuất ra của cải vật chất đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất và tinh thần của xã hội với tất cả tính phong phú và phức tạp của nó. Nói cách khác, trong quá trình lao động sản xuất của cải vật chất, con người đã tạo ra và biến đổi các quan hệ xã hội cũng như bản thân con người, dần dần hình thành nên nét đặc trưng riêng của xã hội. Như vậy, xã hội tồn tại và phát triển được trước hết là nhờ sản xuất vật chất.
Do vậy, lịch sử của xã hội trước hết là lịch sử phát triển của sản xuất vật chất. Mọi quan hệ phức tạp của đời sống xã hội dù trong bất kỳ lĩnh vực nào như chính trị hay pháp luật, nghệ thuật hay đạo đức, tôn giáo hay khoa học, … hết thảy đều hình thành và biến đổi trên cơ sở vận động của đời sống sản xuất vật chất. Kinh tế và xã hội tuy là hai quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau, song chúng vẫn đảm bảo tính thống nhất chung là của một thể chế. Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định.
Kinh tế phát triển thì xã hội sẽ phồn vinh; và ngược lại, xã hội ổn định thì kinh tế mới có điều kiện để phát triển. Từ những khái niệm cơ bản nêu trên cho thấy kinh tế đóng vai trò là cái nền cơ bản vững chắc mà trên đó có một xã hội phát triển được tạo dựng để đảm bảo ba mục đích là: Thứ nhất, các giá trị vật chất được đưa lên hàng đầu, và trong giá trị vật chất, giá trị kinh tế được xem là quan trọng nhất; thứ hai, bao gồm các giá trị xã hội, chính trị, văn hóa và những chế định có liên quan; thứ ba liên quan đến nội tại của con người, làm cho con người trở nên người hơn, nhân bản hơn. Quốc phòng và nhiệm vụ của quốc phòng đối với quốc gia 1. Quốc phòng Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt [4].
Trong giai đoạn hiện nay thì nhiệm vụ của quốc phòng là: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc 12 Luan van chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, văn hóa tư tưởng và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; góp phần giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động bất ngờ. Nhiệm vụ của quốc phòng đối với quốc gia Quốc gia là một khái niệm về địa lý và chính trị, trừu tượng về tinh thần, tình cảm và pháp lý, để chỉ về một lãnh thổ có chủ quyền, một chính quyền và những con người của các dân tộc có trên lãnh thổ đó; họ gắn bó với nhau bằng luật pháp, quyền lợi, văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, chữ viết qua quá trình lịch sử lập quốc, và những con người chấp nhận nền văn hóa cũng như lịch sử lập quốc đó cùng chịu sự chi phối của chính quyền, và họ cùng nhau chia sẻ quá khứ cũng như hiện tại và cùng nhau xây dựng một tương lai chung trên vùng lãnh thổ có chủ quyền đã được xác định. Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam [5].