CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM KHI XUẤT KHẨU SANG MỸ. Khái quát về thị trường Mỹ 1. Giới thiệu về thị trường Mỹ.1 Điều kiện tự nhiên- xã hội: Hoa Kỳ hay thường gọi là nước Mỹ có tên gọi đầy đủ là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (The United States of America) gồm 50 bang và một quận (đặc khu Columbia). Hoa Kỳ nằm ở Tây bán cầu, bắc giáp Canada với đường biển dài 8.893 km, nam giáp Mêhicô và Vịnh Mêhicô, đông giáp Đại Tây Dương với đường bờ biển dài 22.680 km, tây giáp Thái Bình Dương.
Bang Alaska nằm ở phía tây bắc Canada, cực tây của bang cách trung tâm Hoa Kỳ 5.426 km; quần đảo Hawaii ở Thái Bình Dương có cực nam cách trung tâm Hoa Kỳ 5. Thủ đô là Washington D.C thuộc đặc khu Columbia. So với Việt Nam, Hoa Kỳ nằm ở phía bên kia Bán cầu, lệch từ 12 đến 15 múi giờ (tuỳ từng vị trí trên đất Mỹ). Tổng diện tích của Hoa Kỳ là 9.091 km2, là nước có diện tích lớn thứ ba trên thế giới, sau Nga và Canada, chiếm 6,2% diện tích toàn cầu, trải dài 4.500 km từ đông sang tây, 2.500 km từ bắc xuống nam, trong đó đất đai chiếm 9.960 km2 sông hồ chiếm 470.
Hoa Kỳ có tất cả các loại địa hình khí hậu, đồng bằng rộng lớn ở phía Đông, dải ven biển ở phía Tây, núi cao ở phía Tây. Khí hậu ôn đới và cận nhiệt ở phía Nam, hàn đới ở phía Bắc. Khí hậu địa hình đa dạng như vậy cho phép Hoa Kỳ phát triển các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp phong phú trên quy mô lớn. Theo số liệu thống kê của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, dân số của Hoa Kỳ tại thời điểm 10/07/2003 là 292.416 người, chiếm khoảng 5% dân số thế giới và mật độ dân số khoảng 30 người/ km2.
Hoa Kỳ là nước đông dân thứ ba trên thế giới, sau Trung Quốc và Ấn Độ. Đây là một quốc §inh Hång H¹nh - A9K38 11 Kho¸ luËn tèt nghiÖp khoa kinh tÕ ngo¹i th¬ng gia đa dân tộc có nền văn hóa đa dạng và phong phú, đại đa số là người da trắng-chiếm 69,1% dân số, người da đen chiếm 12,1%, gốc Latin (Hispanic) chiếm 12,5%, gốc Châu á là 3,6% và thổ dân Mỹ chiếm 0,8%. Hoa Kỳ có tỷ lệ tăng dân số hàng năm vào khoảng 1%, tuổi thọ trung bình là 76, trong đó tuổi thọ của nam giới xấp xỉ 73 tuổi còn của nữ giới gần 80 tuổi. Khoảng 30% dân số Hoa Kỳ là dân nhập cư.
Ngày nay, bình quân mỗi năm có khoảng 700.000 người nhập cư hợp pháp và khoảng gần 300.000 người nhập cư bất hợp pháp vào Hoa Kỳ.2 Giá trị văn hoá, lối sống: Mỹ có thành phần xã hội đa dạng, gồm nhiều cộng đồng người riêng biệt. Điều này đã tạo cho nước Mỹ một môi trường văn hoá vô cùng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, nhìn chung văn hoá Mỹ chịu ảnh hưởng lớn của Châu Âu về các mặt như ngôn ngữ, thể chế, tôn giáo, văn học, kiến trúc, âm nhạc.ảnh hưởng của người bản xứ Indian chỉ còn ở một số kinh nghiệm và địa danh. Trong xã hội Mỹ, cái được tôn vinh và quý trọng nhất là lao động và thời gian.
Lao động được người Mỹ coi là tài sản quý giá nhất nên họ luôn hiểu rất rõ giá trị của nó và luôn có ý thức sao cho sức lao động mình bỏ ra mang lại hiệu quả cao nhất. Đây chính là nguồn gốc của các phát minh khoa học, những thành tựu về kỹ thuật, cải tiến sản xuất và tác phong làm việc công nghiệp- những yếu tố quan trọng đưa nước Mỹ trở thành cường quốc như ngày nay. Cạnh tranh cũng là một yếu tố không thể thiếu trong xã hội Mỹ. Thậm chí ở đây, cạnh tranh còn diễn ra gay gắt, khốc liệt- như nhiều người vẫn mô tả là một mất một còn trên mọi lĩnh vực.
Chính điều này đã tạo cho người Mỹ ý thức sâu sắc về giá trị của thời gian. ý thức này được thể hiện rõ nét nhất trong tác phong làm việc công nghiệp, phong cách đàm phán đi thẳng vào vấn đề chứ không lòng vòng và cách đưa ra những quyết định nhanh chóng. §inh Hång H¹nh - A9K38 12 Kho¸ luËn tèt nghiÖp khoa kinh tÕ ngo¹i th¬ng Nhìn chung, người Mỹ được đánh giá là những người mạnh mẽ, thẳng thắn, tự tin và cởi mở. Ngay từ lần gặp đầu tiên, họ thường chủ động bắt chuyện hỏi thăm và tạo sự thân thiện với người đối diện.
Người Mỹ cũng đánh giá cao sự thân mật và bình đẳng trong quan hệ giữa người với người. Vì vậy, họ cố gắng làm cho mọi người cảm thấy thoải mái bằng cách hạ thấp sự phân biệt chức vụ. Trong giao tiếp, người Mỹ có xu hướng nói to, thích nhìn thẳng vào người đối diện và có thái độ công khai đòi hỏi quyền lợi - điều khiến cho nhiều nhà đàm phán Châu Á, thậm chí cả Châu Âu cho là họ thiếu tế nhị. Một điểm đáng lưu ý nữa là người Mỹ rất có tinh thần tôn trọng pháp luật và kinh doanh với người Mỹ nhất thiết phải có luật sư.
Ở Mỹ, không một vị giám đốc công ty nào dám ký một hợp đồng mà không có luật sư của công ty kiểm tra trước. Do vậy, người Mỹ sẽ rất ngạc nhiên và thậm chí nghi ngờ khi thấy đối tác làm ăn của mình sẵn sàng ký các hợp đồng do phía họ soạn thảo mà không có sự kiểm tra của luật sư bởi vì họ sợ đối tác không đảm bảo khả năng thực hiện hợp đồng.3 Thị hiếu của người tiêu dùng: Do Mỹ là một quốc gia đa sắc tộc, thêm vào đó là ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá, xã hội, lối sống, mức thu nhập nên thị hiếu của người tiêu dùng Mỹ rất đa dạng và phong phú. Yêu cầu của người tiêu dùng Mỹ đối với phẩm cấp hàng hoá có rất nhiều loại, từ hàng hoá có phẩm cấp thấp đến hàng hoá phẩm cấp trung bình và các hàng hoá có phẩm cấp cao. Thông thường, các hàng hoá của Việt Nam nhập khẩu vào thị trường Mỹ thường được xếp vào hàng hoá có phẩm cấp trung bình và thấp.
Đối với các hàng hoá thuộc phẩm cấp trung bình và thấp, nhìn chung người tiêu dùng Mỹ ưa chuộng những mặt hàng có mẫu mã đơn giản, tiện dụng, không quá cầu kỳ như thị hiếu của người Châu Âu. Điều quan trọng nhất là hàng hoá đó phải tiện dụng và giá cả tương đối rẻ. Chính điều này đã tạo cho một lượng không nhỏ các sản phẩm dệt may, giầy dép, đồ da của Trung Quốc chỗ đứng trên thị trường Mỹ do có cấu trúc đơn giản và giá §inh Hång H¹nh - A9K38 13 Kho¸ luËn tèt nghiÖp khoa kinh tÕ ngo¹i th¬ng thành rất thấp so với các sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh tranh khác. Người tiêu dùng Mỹ cũng rất chuộng những sản phẩm độc đáo và mới lạ.
Họ có thể rất tự hào khi có một sản phẩm tuy đơn giản và không đắt tiền nhưng những người khác lại không có. Trên thị trường Mỹ, yếu tố giá cả đôi khi có sức cạnh tranh cao hơn cả chất lượng sản phẩm. Người tiêu dùng Mỹ thường không muốn trả tiền theo giá niêm yết. Hàng hoá bán tại Mỹ thường phải kèm theo dịch vụ sau bán hàng.
Số lượng và chất lượng của dịch vụ này là điểm mấu chốt cho sự tín nhiệm đối với người bán hàng. Đối với các mặt hàng có giá đặc biệt thấp so với các mặt hàng khác cùng loại thì bên cạnh yếu tố kinh tế, đôi khi nó còn kích thích vào trí tò mò của người tiêu dùng Mỹ, họ luôn muốn tìm kiếm những cái mới và muốn dùng thử xem sao. Tuy nhiên, người tiêu dùng Mỹ thường nôn nóng nhưng cũng rất mau chán, vì thế nhà sản xuất phải sáng tạo và thay đổi nhanh sản phẩm của mình, thậm chí phải có “phản ứng trước”. Từ trước đến nay, Mỹ luôn là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh, mạnh, hiện đại và năng động nhất thế giới.
Đầu thế kỷ thứ XX, trong khi nền kinh tế thế giới, ở cả Châu Âu và Châu Á, chịu sự tàn phá nặng nề của hai cuộc chiến tranh thế giới thì nền kinh tế Mỹ lại phát triển mạnh, giàu có lên nhờ buôn bán vũ khí, lương thực, thực phẩm. Năm 1945, khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Hoa Kỳ chiếm đến 42% GNP toàn cầu, 54,6% tổng sản lượng công nghiệp của khối các nước tư bản, 24% xuất khẩu và 74% dự trữ vàng. Mặc dù trong một số lĩnh vực Mỹ không còn chiếm được ưu thế tuyệt đối như trước đây, thậm chí còn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của các nền kinh tế khác như Nhật Bản, Nga, Trung Quốc. nhưng hiện nay, và trong những thập kỷ tới, Mỹ sẽ vẫn giữ được địa vị cường quốc số một về kinh tế và vai trò chi phối toàn bộ nền kinh tế thế giới.
Trong giai đoạn §inh Hång H¹nh - A9K38 14 Kho¸ luËn tèt nghiÖp khoa kinh tÕ ngo¹i th¬ng 1992-2002, Mỹ đã giữ được kỷ lục tăng trưởng kinh tế bền vững liên tục với mức tăng trưởng GDP trung bình 3,5%/ năm, trong năm 2002 là 2,4%. Năng suất lao động tăng trung bình 2,4%, tỷ lệ thất nghiệp giữ ở mức gần 6% (đầu năm 2003), thu nhập quốc dân theo đầu người năm 2002 khoảng 37. Mặc dù nền Mỹ đã phải gánh chịu những ảnh hưởng nặng nề từ sự kiện 11-9 nhưng cho đến gần đây, kinh tế Mỹ đã có những dấu hiệu phục hồi. BẢNG 1: MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ CỦA MỸ.
Dự báo Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 4,3 4,1 3,8 0,3 2,2 2,6 (% thay đổi hàng năm) Mức tăng GDP thực tế bình quân theo đầu người 3,3 3,2 0,9 -1,3 1,2 1,5 (%) Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của IMF, WB, OECD, ADB, LHQ. Cơ cấu nền kinh tế Mỹ năm 2002 như sau: Nông nghiệp-2%, Công nghiệp-18%, Dịch vụ-80%. Trong nông nghiệp, công nghệ canh tác mới đã làm thay đổi cơ cấu nông nghiệp. Sản phẩm nông nghiệp chính của Mỹ là lúa mỳ, đậu nành, ngô, hoa quả, bông, các loại ngũ cốc khác, thịt bò, thịt lợn, gia cầm, sản phẩm sữa, lâm sản, cá.
Các ngành công nghiệp chính là dầu lửa, sắt thép, ô tô, hàng không, viễn thông, hoá chất, điện tử, chế biến thực phẩm, hàng tiêu dùng, khai thác gỗ, khai khoáng. Mỹ hiện đang là nước sản xuất ô tô và máy bay hàng đầu trên thế giới.