Chương 1: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của Hiệp định thương mại tự do tới hoạt động xuất nhập khẩu thủy sản Chương 2: Ảnh hưởng của VKFTA tới hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Hàn uốc Chương 3: Một số kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc trong bối cảnh VKFTA có hiệu lực. Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN 1. Khái niệm, nội dung cơ bản và phân loại hiệp định thƣơng mại tự do (FTA) 1. Khái niệm Hiệp định thương mại tự do Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới từ sau Thế chiến II với sự phát triển bùng nổ của hai xu thế hội nhập là đa phương h a quan hệ kinh tế thương mại toàn cầu trong khuôn khổ GATT/WTO và khu vực hóa giữa các nền kinh tế hay các nhóm quốc gia với nhau, cho đến nay đã c rất nhiều học giả, tổ chức, quốc gia đưa ra khái niệm hiệp định thương mại tự do (FTA) cho riêng mình.
Điều này thể hiện quan điểm, cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau của mỗi một học giả, tổ chức, quốc gia đ. Trong số đ , c một số quan điểm về FTA mang tính bao quát và được đa phần các học giả, tổ chức và quốc gia đồng thuận. Khái niệm FTA lần đầu tiên được đưa ra trong GATT (1947) tại điều XXIV – điểm 8b với nội dung: “Một hiệp định thương mại tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hoặc nhiều vùng lãnh thổ thuế quan trong đ thuế và các rào cản thương mại khác (trừ trường hợp được ph p theo Điều XI, XII, XIII, XIV, XV và XX) được dỡ bỏ đối với phần lớn các mặt hàng có xuất xứ từ các lãnh thổ đ và được tiến hành trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ thuế quan đ ”. Định nghĩa về khu vực thương mại tự do đã được nhà kinh tế học M.
Jovanovic (1998) đưa ra như sau: “Một khu vực thương mại tự do là một nhóm nước với nhau, trong đ mỗi nước đồng ý miễn thuế quan và các hạn chế định lượng thường áp dụng với các sản ph m nhập kh u hay bộ phận cấu thành của sản ph m này, có xuất xứ hoặc được sản xuất tại vùng lãnh thổ của các thành viên khác trong nh m nước hình thành nên khu vực thương mại tự do đ ”. Tóm lại, theo quan niệm truyền thống, khái niệm FTA chỉ dừng lại ở thương mại hàng hoá hữu hình cũng như tiến hành dỡ bỏ thuế quan và một số hàng rào thương mại khác. Luan van 9 Tuy nhiên, từ năm 1990 đến nay, khái niệm FTA truyền thống đã không c n phù hợp với xu thế hội nhập của nền kinh tế, vì thế các FTA “thế hệ mới” ra đời nhằm chỉ những thoả thuận hội nhập kinh tế sâu rộng giữa hai hay một nh m nước với nhau. Thuật ngữ “thế hệ mới” hoàn toàn mang tính tương đối, được sử dụng để nói về các FTA có phạm vi toàn diện, vượt ra ngoài khuôn khổ tự do h a thương mại hàng h a.
Các FTA “thế hệ mới” này có phạm vi rộng hơn và cam kết tự do hoá sâu hơn. Ngoài những cam kết giảm thuế quan cũng như các hàng rào phi thuế quan, FTA “thế hệ mới” c n bao gồm những vấn đề rộng hơn cả những cam kết trong và ngoài khuôn khổ GATT/WTO cũng như cả những vấn đề thương mại mới mà chưa được quy định bởi WTO. Có thể kể đến các FTA “thế hệ mới” như: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA); Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA), Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA); Hiệp định Đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP); các FTA ASEAN + 1; FTA Australia - Hoa Kỳ (AUSFTA), FTA “thế hệ mới” bao gồm hàng loạt những vấn đề như thuận lợi hoá thương mại, thương mại dịch vụ, đầu tư, lao động, mua sắm Chính phủ, các biện pháp phi thuế quan, quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế giải quyết tranh chấp, môi trường, chính sách cạnh tranh (hay còn gọi là “những vấn đề Singapore” bởi đ là những vấn đề được đặt ra trong Hội nghị cấp bộ trưởng của WTO năm 1996 diễn ra tại Singapore), bên cạnh đ , FTA “thế hệ mới” c n đề cập đến những vấn đề như dân chủ, chống khủng bố 1. Nội dung cơ bản của Hiệp định thương mại tự do 1.
Thương mại hàng hoá Đối với rất nhiều Hiệp định FTA, thương mại hàng h a là lĩnh vực quan tâm chính của các bên tham gia, tạo nên nền tảng của Hiệp định. Các cam kết về thương mại hàng hóa sẽ giúp các bên hiện thực hóa mục tiêu chính là mở rộng thị trường, tạo thuận lợi cho hàng xuất kh u. Các nội dung chính về thương mại hàng hóa thường được thỏa thuận trong Hiệp định FTA gồm: a. Thuế quan Mức độ cắt giảm thuế quan theo Hiệp định FTA thường sâu hơn (đưa thuế suất về 0%), cắt giảm nhanh hơn cam kết trong WTO do các bên chỉ tập trung vào Luan van 10 những lĩnh vực c quan tâm.
Theo Điều XXIV của Hiệp định GATT/WTO, các bên tham gia Hiệp định FTA phải cam kết xóa bỏ thuế quan đối với phần lớn thương mại giữa các bên. Theo cách hiểu thông thường (không chính thức) thì Hiệp định FTA cần quy định xóa bỏ thuế quan đối với ít nhất 90% giá trị thương mại và số dòng thuế trong v ng 10 năm. Các d ng thuế không cam kết hoặc có cam kết nhưng không đưa về 0% thường là các sản ph m nhạy cảm/đặc biệt nhạy cảm đối với các bên. Các nước kém phát triển nhất (LDCs) hoặc đang phát triển có thể được hưởng linh hoạt về lộ trình hoặc diện cam kết.
Cam kết cắt giảm thuế quan của các nước theo Hiệp định FTA thường chia thành các nhóm: (i) Đưa thuế suất về 0% ngay khi Hiệp định FTA có hiệu lực; (ii) Đưa thuế suất về 0% theo lộ trình (cắt giảm tuyến tính); (iii) Cắt giảm thuế quan nhanh trong năm đầu tiên, sau đ cắt giảm từng bước một trong những năm tiếp theo (frontload); (iv) Không cắt giảm thuế quan trong thời gian đầu, việc cắt giảm được thực hiện vào các năm cuối của lộ trình (backload); và (v) Không cam kết. Bên cạnh thuế quan, các bên tham gia FTA cũng c thể đưa ra cam kết về hạn ngạch thuế quan, đặc biệt đối với các thủy sản nhạy cảm. Thông thường, nhập kh u trong hạn ngạch từ các đối tác tham gia FTA sẽ được hưởng thuế suất FTA ưu đãi, nhập kh u ngoài hạn ngạch sẽ phải chịu thuế suất ngoài hạn ngạch (trong nhiều trường hợp là thuế suất ngoài hạn ngạch theo cam kết WTO). Bên cạnh thuế nhập kh u, trong một số FTA các đối tác có thể thảo luận, cam kết cả thuế xuất kh u, căn cứ vào mục tiêu chính sách của các bên.
Thuận lợi h a thương mại Thuận lợi h a thương mại là một nội dung quan trọng trong nhiều Hiệp định FTA, các lĩnh vực mà các nước thường đ y mạnh hợp tác trong khuôn khổ FTA là hải quan, giải phóng hàng, quyết định trước (advanced rulings), áp dụng công nghệ thông tin trong thương mại, hàng chuyển tải, hỗ trợ kỹ thuật, v. Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và vệ sinh dịch tễ (SPS) Thông thường, đối với TBT và SPS, các bên tham gia FTA sẽ tái khẳng định Luan van 11 cam kết thực hiện các Hiệp định liên quan của WTO (Hiệp định TBT và Hiệp định SPS). Bên cạnh đ , các bên sẽ đề ra các nguyên tắc nhằm định hướng cho hoạt động hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên như áp dụng thực tiễn tốt nhất, đánh giá hợp chu n, công nhận tương đương, hài h a tiêu chu n, các thỏa thuận công nhận lẫn nhau, minh bạch hóa, hỗ trợ kỹ thuật v. Các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp Bên cạnh thỏa thuận thực hiện các quy định của WTO, các bên tham gia FTA có thể thống nhất các quy định về tự vệ đặc biệt, chống bán phá giá, chống trợ cấp trong khuôn khổ Hiệp định FTA.
Quy tắc xuất xứ Quy tắc xuất xứ là nội dung quan trọng trong các Hiệp định FTA vì chỉ khi đáp ứng các quy tắc xuất xứ này thì hàng hóa mới được hưởng ưu đãi thuế quan quy định trong Hiệp định. Ngoài ra, quy tắc xuất xứ cũng giúp ngăn chặn việc chuyển hàng hóa nhập kh u vào lãnh thổ hải quan của thành viên có mức thuế quan thấp để xuất sang các thành viên khác. Bên cạnh quy tắc xuất xứ chung (thường là hàm lượng giá trị khu vực), các thành viên cũng thường đàm phán các quy tắc về chuyển đổi nhóm, quy tắc xuất xứ theo mặt hàng cụ thể. Các Hiệp định FTA thường đưa ra một tỉ lệ nội địa hoá đối với hàng hoá nhập kh u.
Nếu hàng hoá đ nhập kh u vào nước đối tác đáp ứng được tiêu chu n này sẽ được hưởng ưu đãi hơn về thuế quan so với hàng hoá được nhập từ nước thứ ba. Thương mại dịch vụ Bên cạnh thương mại hàng h a, thương mại dịch vụ cũng là nội dung quan trọng của các Hiệp định FTA. Hầu hết các Hiệp định FTA đều c chương riêng, Hiệp định riêng về dịch vụ. Nội dung về dịch vụ trong các FTA thường tập trung vào: (i) Chủ yếu tuân thủ và tăng cường các nguyên tắc chính của WTO như nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, minh bạch h a, quy định trong nước, thanh toán và chuyển khoản, tự vệ, trợ cấp, v.
và phụ lục về một số ngành dịch vụ cụ thể (tài chính, viễn thông, di chuyển của tự nhiên nhân, v.); và (ii) Biểu cam kết mở cửa thị trường dịch vụ. Trong các Hiệp định FTA truyền thống, thương mại dịch vụ được chia thành Luan van 12 bốn phương thức cung cấp là: (i) Cung cấp qua biên giới; (ii) Tiêu dùng ngoài lãnh thổ; (iii) Hiện diện thương mại; và (iv) Hiện diện của thể nhân. Tuy nhiên, trong nhiều Hiệp định FTA “thế hệ mới”, thương mại dịch vụ chỉ bao gồm hai phương thức cung cấp qua biên giới và tiêu dùng ngoài lãnh thổ, phương thức hiện diện thương mại được đưa vào phần đầu tư, hiện diện của thể nhân được đưa vào một chương riêng về di chuyển của tự nhiên nhân.