Chương 1: TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU Chương 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG MÁY CÔNG CỤ SANG THỊ TRƯỜNG HÀN QUỐC Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG MÁY CÔNG CỤ SANG THỊ TRƯỜNG HÀN QUỐC. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2.1 Khái niệm về xuất khẩu Theo nhà kinh tế học Adam Smith, phân công lao động xã hội dẫn đến chuyên môn hoá sản xuất, sẽ tạo ra một khối lượng hàng hoá lớn đáp ứng không chỉ đủ nhu cầu trong nước mà còn có thể xuất khẩu ra nước ngoài để trao đổi với hàng hoá mà trong nước sản xuất không hiệu quả. Còn theo học thuyết “lợi thế so sánh” của David Ricardo thì khi một quốc gia sản xuất mặt hàng có lợi thế so sánh và trao đổi nó với quốc gia khác thì vẫn đem lại lợi nhuận cho cả hai quốc gia.
Như vậy, xuất khẩu hàng hoá là một hoạt động tất yếu xảy ra khi phân công lao động xã hội đạt được một trình độ nhất định. Ta có nhiều cách hiểu khác nhau về xuất khẩu như: Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động đưa hàng hoá ra khỏi một nước (từ nước này sang nước khác) để bán trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán hoặc trao đổi lấy một hàng hoá khác có giá trị tương đương. Trong giáo trình Kinh tế ngoại thương, Bùi Xuân Lưu (2001) định nghĩa: “Xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho nước ngoài”. Feenstra và Taylor (2010) đưa ra một định nghĩa khác trong giáo trình Thương mại quốc tế của họ, theo đó, “xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác”.
Như vậy ở đây, xuất khẩu được hiểu là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của một quốc gia với phần còn lại của thế giới nhằm khai thác triệt để lợi thế của quốc gia mình trong phân công lao động quốc tế. Theo luật thương mại Việt Nam số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005, điều 28, khoản 1, khái niệm về xuất khẩu được nêu rõ: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” 9 Nói một cách khái quát, xuất khẩu hàng hóa là hàng hóa được sản xuất tại một quốc gia và bán cho người mua ở một quốc gia khác. Xuất khẩu là một hình thức cơ bản của thương mại quốc tế, diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian, có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn nhưng cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể được tiến hành trên quy mô quốc gia hoặc nhiều quốc gia. Xuất khẩu hàng hóa xuất hiện trong mọi lĩnh vực và điều kiện kinh tế.
Tất cả những trao đổi như vậy đều nhằm mang lại lợi ích cho các quốc gia liên quan.2 Đặc điểm của xuất khẩu. Hoạt động xuất khẩu là một phần của hoạt động thương mại quốc tế nên nó cũng có những đặc điểm cơ bản của thương mại quốc tế và có liên quan mật thiết đến các hoạt động thương mại quốc tế khác như bảo hiểm quốc tế, thanh toán quốc tế, tuân theo những tập quán buôn bán quốc tế. Xuất khẩu là hoạt động buôn bán diễn ra trên phạm vi ngoài quốc gia. Vì thế, nó phức tạp hơn rất nhiều so với mua bán kinh doanh trong nước.
Cụ thể: - Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian. Nó có thể diễn ra trong một thời gian rất ngắn song cũng có thể rất dài, có thể diễn ra tại một hoặc nhiều quốc gia khác nhau - Thị trường rộng lớn, khó kiểm soát. Chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp. của các quốc gia khác nhau - Nhà nước quản lý hoạt động xuất khẩu thông qua các công cụ chính sách như: Chính sách thuế, hạn ngạch, rào cản kỹ thuật.
Hoạt động xuất khẩu mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia, nó không chỉ đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp mà còn góp phần đẩy mạnh hoạt động sản xuất trong nước nhờ tích lũy khoản thu ngoại tệ. Phát huy tính sáng tạo của các đơn vị kinh tế thông qua cạnh tranh quốc tế. Xuất khẩu còn là phương tiện để khai thác các lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, nhân lực và các nguồn lực khác. Ngoài ra, 10 hoạt động này còn thúc đẩy sự hợp tác giữa nhiều quốc gia và đẩy mạnh tiến trình hợp tác toàn cầu.
Vai trò của xuất khẩu hàng hoá Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy kinh tế thế giới. Nhà nước ta luôn coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế theo hướng xuất khẩu (tất nhiên không coi nhẹ sản xuất trong nước và thị trường trong nước), khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ.1 Đối với nền kinh tế quốc dân Xuất khẩu là phương tiện chính tạo nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, một tiến trình đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, vật tư công nghiệp và công nghệ phát triển tiên tiến. Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất trong nước và hoạt động nhập khẩu phát triển. Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào cho sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước.
Xuất khẩu tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm, tăng mức sống và cải thiện đời sống nhân dân. Trước hết, sản xuất hàng hóa xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động, tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày của người lao động. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta như quan hệ tín dụng, đầu tư, thanh toán quốc tế, vận tải quốc tế. Đối với doanh nghiệp Xuất khẩu mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Lợi nhuận là nguồn bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh, các quỹ của công ty. Lợi nhuận cao cho phép công ty 11 đẩy mạnh tái đầu tư vào tài sản cố định, tăng nguồn vốn lưu động để thực hiện hoạt động xuất, nhập khẩu, giúp công ty ngày càng mở rộng phát triển. Xuất khẩu hàng hóa còn có vai trò nâng cao uy tín của công ty trên thị trường quốc tế. Nó cho phép công ty thiết lập được các mạng lưới quan hệ với nhiều đối tác ở các nước khác nhau và sẽ rất có lợi cho công ty nếu duy trì tốt mối quan hệ này.
Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả hợp lý. Từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và cho sản phẩm. Các hình thức xuất khẩu Có những hình thức xuất khẩu chủ yếu sau đây: 2.1 Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của một công ty cho các khách hàng của mình ở thị trường nước ngoài. Xuất khẩu trực tiếp có 2 hình thức chủ yếu là: Đại diện bán hàng: Đại lý bán hàng là hình thức bán hàng không mang danh nghĩa của mình mà lấy danh nghĩa của người ủy thác nhằm nhận lương và một phần hoa hồng trên cơ sở giá trị hàng hóa bán được.
Trên thực tế, đại diện bán hàng hoạt động như là nhân viên bán hàng của công ty ở thị trường nước ngoài. Công ty sẽ ký hợp đồng trực tiếp với khách hàng ở nước đó. Đại lý phân phối: Đại lý phân phối là người mua hàng hóa của công ty để bán theo kênh tiêu thụ ở khu vực mà công ty phân định. Công ty khống chế phạm vi phân phối, kênh phân phối ở thị trường nước ngoài.
Đại lý phân phối chấp nhận toàn bộ rủi ro liên quan đến việc bán hàng hóa ở thị trường đã phân định và thu lợi nhuận qua chênh lệch giữa giá mua và giá bán. 12 Ưu điểm: ● Chủ động trong việc tìm kiếm nguồn khách hàng và trong việc tiêu thụ hàng hóa sản phẩm của mình. ● Trực tiếp đàm phán giá cả và lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp. ● Giảm được chi phí trung gian, gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nhược điểm: ● Khó tránh khỏi rủi ro và các sai sót, ảnh hưởng tới toàn bộ lô hàng. ● Khối lượng hàng hoá khi tham gia giao dịch đảm bảo đủ lớn để bù đắp được chi phí trong việc giao dịch.2 Xuất khẩu gián tiếp Xuất khẩu gián tiếp là hình thức bán hàng hóa và dịch vụ của công ty ra nước ngoài thông qua trung gian. Ba loại trung gian mua bán chủ yếu trong kinh doanh xuất khẩu là: Đại lý, công ty quản lý xuất khẩu và công ty kinh doanh xuất khẩu. Các trung gian mua bán này không chiếm hữu hàng hóa của công ty nhưng trợ giúp công ty xuất khẩu hàng hóa sang thị trường nước ngoài.
Đại lý: là các cá nhân hay tổ chức đại diện cho nhà xuất khẩu thực hiện một hay một số hoạt động nào đó ở thị trường nước ngoài. Đại lý chỉ thực hiện một công việc nào đó cho công ty ủy thác và nhận thù lao. Đại lý không chiếm hữu và sở hữu hàng hóa. Đại lý là người thiết lập quan hệ hợp đồng giữa công ty và khách hàng ở thị trường nước ngoài.
Công ty quản lý xuất khẩu: là công ty nhận ủy thác và quản lý công tác xuất khẩu hàng hóa. Công ty quản lý xuất khẩu hàng hóa hoạt động trên danh nghĩa của công ty xuất khẩu nên là nhà xuất khẩu gián tiếp. Công ty quản lý xuất khẩu đơn thuần làm các thủ tục xuất khẩu và thu phí dịch vụ xuất khẩu. Bản chất của công tác 13 quản lý xuất khẩu là làm các dịch vụ quản lý và thu được một khoản thù lao nhất định từ các hoạt động đó.
Công ty kinh doanh xuất khẩu: là công ty hoạt động như nhà phân phối độc lập có chức năng kết nối các khách hàng nước ngoài với các công ty xuất khẩu trong nước để đưa hàng hóa ra nước ngoài tiêu thụ.