lời mở đầu, lời cảm ơn, lời cam đoan, mục lục và các phụ lục khác thì nội dung chính của bài nghiên cứu đƣợc chia làm 4 chƣơng chính nhƣ sau: Chƣơng I: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chƣơng II: Cơ sở lý luận về xuất khẩu và thúc đẩy xuất khẩu của doanh nghiệp. Chƣơng III: Phân tích thực trạng thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng tóc giả sang thị trƣờng Châu Âu của công ty TNHH Beautiful Hair. Chƣơng IV: Định hƣớng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng tóc giả sang thị trƣờng Châu Âu của công ty TNHH Beautiful Hair. 5 CHƢƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 2.
Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2. Khái niệm về xuất khẩu Theo Luật thƣơng mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005 của Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá đƣợc đƣa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đƣa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Chính vì thế các hoạt động xuất khẩu diễn ra dựa vào cơ sở thanh toán bằng tiền tệ của 1 trong 2 quốc gia, hoặc sẽ lấy đồng tiền của bên thứ 3 làm căn cứ xác định. Một định nghĩa khác về xuất khẩu đƣợc đƣa ra trong giáo trình Thƣơng mại quốc tế của Feenstra and Taylor (2010), đó là ”Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau.
Xuất khẩu là sản phẩm đƣợc bán từ nƣớc này sang nƣớc khác”. Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thƣơng, đã xuất hiện từ rất lâu đời và ngày càng phát triển. Tuy hình thức đầu tiên chỉ là hàng đổi hàng, song ngày nay hình thức xuất khẩu đã trở nên đa dạng và phong phú hơn. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến tƣ liệu sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật cao.
Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi phạm vi rộng cả về không gian lẫn thời gian. Nó có thể chỉ diễn ra trong thời gian ngắn và cũng có thể diễn ra trong kéo dài hàng năm. Đồng thời nó có thể đƣợc tiến hành trên phạm vi toàn lãnh thổ một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau 2.
Đặc điểm của xuất khẩu Xuất khẩu là hoạt động diễn ra cần có hai hay nhiều bên tham gia, thuộc địa phận quốc gia khác nhau. Chính vì vậy, khi thực hiện các hoạt động xuất khẩu, các bên tham gia có thể gặp những trở ngại về sự khác biệt giữa nền kinh tế, ngôn ngữ, chính trị, tôn giáo. Đây là những trở ngại lớn mà bên xuất khẩu hàng hóa cần tìm hiểu để có thể xuất khẩu sản phẩm của mình. 6 Nghiệp vụ trong hoạt động xuất khẩu chứa rất nhiều rủi ro nhƣ hoạt động thanh toán quốc tế, thuê phƣơng tiện vận tải, đàm phán ký kết hợp đồng, những tranh chấp thƣơng mại.
Do mang nhiều rủi ro khi thực hiện hoạt động xuất khẩu, hai bên tham gia cần thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng, mua bảo hiểm hàng hóa và bổ sung các điều khoản về giải quyết tranh chấp. Mọi lĩnh vực trong nền kinh tế từ hàng hóa tiêu dùng, dịch vụ, máy móc, nhân công đều có thể xuất khẩu. Các quốc gia xuất khẩu mặt hàng mà quốc gia đó có lợi thế so sánh để thu về ngoại tệ. Việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hóa diễn ra trong khoảng thời gian lâu hơn rất nhiều so với các hoạt động mua bán nội địa.
Điều này là do hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi quốc tế, sử dung các phƣơng tiện vận tải đa dạng (tàu hỏa, máy bay, tàu biển.), các thủ tục giấy tờ. đặc biệt, nếu có xảy ra tranh chấp hay kiện tụng, hoạt động xuất khẩu có thể kéo dài vài năm. Vai trò của xuất khẩu 2. Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế thế giới Xuất khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thƣơng và là hoạt động đầu tiên trong hoạt động thƣơng mại quốc tế, xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia cũng nhƣ toàn thế giới.
Do những lý do khác nhau nên mỗi quốc gia đều có thế mạnh về lĩnh vực này nhƣng lại yếu ở lĩnh vực khác. Để có thể khai thác đƣợc lợi thế, giảm bất lợi, tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia phát triển phải tiến hành trao đổi với nhau, mua những sản phẩm mà mình sản xuất khó khăn, bán những sản phẩm mà việc sản xuất có lợi thế. Một quốc gia thua thiệt về tất cả các lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên, nhân công tiềm năng kinh tế. thông qua hoạt động xuất khẩu cũng có điều kiện phát triển kinh tế nội địa.
Nói một cách khác, một quốc gia dù trong tình huống bất lợi vẫn tìm ra điểm có lợi để khai thác. Bằng việc khai thác các lợi thế này, các quốc gia tập trung vào sản xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế tƣơng đối và nhập khẩu các mặt hàng không có lợi thế tƣơng đối. Sự chuyên môn hóa trong sản xuất này đã làm cho mỗi quốc gia khai thác đƣợc lợi thế tƣơng đối của mình một cách tốt nhất để tiết kiệm nguồn nhân lực nhƣ vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên. trong quá trình sản xuất hàng hoá.
Và vì vậy trên quy mô toàn thế giới tổng sản phẩm cũng sẽ đƣợc gia tăng. Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế mỗi quốc gia Xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng nhƣ toàn thế giới. Xuất khẩu là một trong những nhân tố cơ bản để thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế quốc gia: Thứ nhất, Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, đem lại nguồn thu cho quốc gia và cho doanh nghiệp: Xuất khẩu là đem các hàng hóa và dịch vụ dƣ thừa hoặc là có lợi thế hơn để bán cho các nƣớc khác, làm cho các bên đều có lợi và làm tăng quy mô nền kinh tế thế giới. Còn nhập khẩu là mua hàng hoá và dịch vụ từ các quốc gia khác để khắc phục những yếu kém trong khoa học, công nghệ, quản lý.hay là đáp ứng nhu cầu mà nền kinh tế trong nƣớc không đáp ứng đƣợc.
Thứ hai, Xuất khẩu và nhập khẩu là hai hoạt động hỗ trợ cho nhau để cùng thúc đẩy sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Trong đó xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu. Xuất khẩu đem lại nguồn thu cho quốc gia và cho doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn quan trọng để tái đầu tƣ vào các lĩnh vực khác đặc biệt là nhập khẩu, vì ở các nƣớc đặc biệt là các nƣớc đang phát triển, nhu cầu nhập khẩu máy móc và thiết bị lớn nên nhu cầu về vốn lớn.
Xuất khẩu mang lại nguồn vốn sở hữu cho quốc gia, giúp quốc gia chủ động hơn và không phụ thuộc vào các khoản đầu tƣ của nƣớc ngoài để có thể nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển nền kinh tế. Thứ ba, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế có nghĩa là chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tế mà công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn. Nguyên nhân là bởi xuất khẩu giúp khai thác lợi thế so sánh của quốc gia, do vậy, quốc gia sẽ tập trung sản xuất và cung cấp những sản phẩm có lợi thế trên quy mô lớn (quy mô sản xuất công nghiệp). Điều này dẫn đến cơ cấu kinh tế chuyển hƣớng sang công, mang lại nhiều lợi ích hơn so với cơ cấu kinh tế tập trung vào nông nghiệp.
Thứ tư, Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cƣờng hiệu quả sản xuất của từng quốc gia. Để tập trung cho xuất khẩu, quốc gia cần có sự đầu tƣ cho khoa học - kỹ thuật cũng nhƣ trình độ quản lý sản xuất kinh doanh để nâng cao năng lực sản xuất cũng nhƣ khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trƣờng thế giới. Đây là một trong những yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển. Xuất khẩu tạo 8 ra khả năng tiêu thụ trên thị trƣờng cũng nhƣ cung cấp đầu vào cho sản xuất nhằm khai thác tối đa năng lực sản xuất trong nƣớc, phục vụ nhu cầu của thị trƣờng.
Thứ năm, Tạo điều kiện cho các ngành liên quan phát triển. Vì sản xuất là chuỗi hoạt động có tính móc xích với nhau nên sự phát triển của ngành này sẽ kéo theo sự phát triển của ngành khác. Ví dụ xuất khẩu dệt may sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành phụ trợ nhƣ: trồng bông, nuôi tằm, ngành sản xuất bao bì, nhuộm. Thứ sáu, Tác động tích cực đối với việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân.
Về ngắn hạn, để tập trung phát triển các ngành hàng xuất khẩu thì cần phải tận dụng lợi thế lao động dồi dào, giá rẻ. Xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Xuất ảnh hƣởng rất nhiều đến các lĩnh vực của cuộc sống nhƣ tạo ra công việc ổn định, tăng thu nhập cho ngƣời lao động.Nhƣ vậy có thể nói xuất khẩu tạo ra động lực cần thiết cho việc giải quyết những vấn đề thiết yếu của nền kinh tế. Điều này nói lên tính khách quan của tăng cƣờng xuất khẩu trong quá trình phát triển kinh tế.
Thứ bảy, Là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu là hoạt động ra đời sớm nhất trong các hoạt động kinh tế, khi có hoạt động xuất khẩu, các nƣớc sẽ có quan hệ với nhau trên cơ sở các bên đều có lợi. Do vậy các quốc gia sẽ xây dựng các quan hệ kinh tế nhằm đẩy mạnh hoạt động này. Hoạt động xuất khẩu và hoạt động thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại có mối quan hệ qua lại với nhau và dựa vào nhau để phát triển.
Do đó, các quốc gia sẽ chú trọng phát triển đồng thời để đảm bảo sự cân xứng, tạo điều kiện để phát triển nhanh nhất.