CHƯƠNG I CƠ CẤU KINH TẾ VÀ XU HƯỚNG PHAT TRIEN CUA THỊ TRƯỜNG HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ THẾ GIỚI 1L CƠ CẤU KINH TE VA VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU : 1. Khái niệm và các quan niệm về cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng với chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành. Cơ cấu kinh tế là khái niệm phản ánh quan hệ tỷ lệ về lượng và mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế được xem xét trên nhiều góc độ.
Về nội dung, cơ cấu kinh tế được xem xét trên ba góc độ chủ yếu cấu thành nền kinh tế: Cơ cấu các ngành kinh tế và mối quan hệ tương tác giữa các ngành kinh tế; Cơ cấu các vùng kinh tế và mối quan hệ tương tác giữa các vùng kinh tế; Cơ cấu các thành phần kinh tế và mối quan hệ tương tác giữa các thành phần kinh tế. Về các yếu tố của nên kinh tế, cơ cấu kinh tế được xem xét theo nhiều góc độ: cơ cấu lao động, cơ cấu các nguồn đầu tư, cơ cấu đất đai, cơ cấu thu - chi ngân sách v. Về phạm vi, cơ cấu kinh tế được xem xét ở các cấp độ: cơ cấu kinh tế của cả quốc gia, của một vùng lãnh thổ, một địa phương (tỉnh, thành phố, quận, huyện), của một ngành, một lĩnh vực. Cơ cấu kinh tế hợp lý là một cơ cấu có khả năng tạo ra quá trình tái sản xuất mở rộng.
Cơ cấu kinh tế hợp lý là cơ cấu hội đủ các điều kiện sau đây: - Cơ cấu kinh tế phải phù hợp với các quy luật khách quan. - Cơ cấu kinh tế phải phản ánh được khả năng khai thác sử dụng nguồn lực kinh tế trong nước và đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực, nhằm tạo ra sự cân đối và phát triển bền vững. II - Cơ cấu kinh tế phải phù hợp với xu thế kinh tế, chính trị của khu vực và thế giới. Cơ cấu kinh tế có ý nghĩa thiết thực trong việc thúc đẩy nên kinh tế phát triển đa dạng, năng động, phát huy các lợi thế, tiềm năng về nguồn nhân lực, vật lực và tài lực.
Cơ cấu kinh tế quốc dân có nhiều loại và tùy theo mục dích nghiên cứu, quản lý có thể xem xét dưới các góc độ khác nhau. Nhưng dù thuộc loại nào, cơ cấu kinh tế quốc dân cũng là sản phẩm của phân công lao động xã hội, nó được biếu hiện cụ thể đưới hai hình thức cơ bản nhất là phân công lao động theo ngành và phân công lao động theo lãnh thổ. Hai hình thức phân công lao động xã hội này gắn bó với nhau, thúc đẩy quá trình tiến hóa chung của nhân loại. Mọi sự phát triển của phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao động theo lãnh thổ.
Phân công lao động theo lãnh thổ, với đầy đủ các yếu tố về dân số, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, phong tục tập quán của mỗi vùng sẽ tạo điều kiện để chuyên môn hóa sản xuất, hỗ trợ cho các ngành phát triển, hình thành các cơ sở sản xuất kinh doanh để khai thác và phát huy thế mạnh ở từng vùng lãnh thổ. Trình độ phát triển của phân công lao động xã hội trong mỗi dân tộc là thước đo trình độ phát triển chung của dân tộc dó. Như vậy, cách tiếp cận về cơ cấu kinh tế xuất phát từ cấu trúc bên trong của nó qua quá trình tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế, bao hàm các mối quan hệ kinh tế đa dạng và phức tạp, được nhìn nhận trên quan điểm hệ thống không chỉ mang tính số lượng mà còn mang tính chất lượng. Nó không chỉ là mối quan hệ riêng lẻ của từng bộ phận kinh tế mà phải là những quan hệ tổng thể của các bộ phận cấu thành nền kinh tế bao gồm các yếu tố kinh tế, các lĩnh vực kinh tế, các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế.
Cơ cấu kinh tế phải được hiểu là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về chất lượng và số lượng của các yếu tố hoặc các bộ phận của lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất trong một hệ thống nhằm tái sản xuất xã hội với những điều kiện xã hội nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định. Như thế, cơ cấu kinh tế bao giờ cũng được đặt trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể, trong điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội cụ thể và thích hợp với mỗi nước, mỗi vùng hoặc có thể của mỗi doanh nghiệp. Cơ cấu kinh tế không bất biến mà luôn có sự vận động, chuyển dịch cần thiết để ngày càng hợp lý hơn. Mọi sự duy trì quá lâu hay sự thay đổi quá nhanh chóng cơ cấu kinh tế, không phù hợp với những biến đổi tự nhiên - kinh tế - xã hội, đều ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, ngăn cản tăng trưởng kinh tế.
12 Việc duy trì hay thay đổi cơ cấu kinh tế không phải là mục đích mà là phương tiện để đạt được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Cơ cấu kinh tế là vấn để mang tính lịch sử và không ngừng biến đổi. Sự hình thành và-biến đổi của cơ cấu kinh tế phụ thuộc trình độ phát triển của các ngành kinh tế, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế, vào các điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế và xã hội của quốc gia, của các vùng, các địa phương ở từng thời kỳ. Nhà nước với chức năng quản lý kinh tế vĩ mô có vai trò hết sức quan trọng đối với sự hình thành và biến đổi của cơ cấu kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển. Yêu cầu của sự chuyển dịch này là phải xác định các bộ phận hợp thành cơ cấu kinh tế và tỷ lệ quan hệ giữa các bộ phận đó một cách hợp lý. Cụ thể là phải xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân, quan hệ giữa các thành phần kinh tế và quan hệ giữa các vùng lãnh thổ, trong đó quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân có ý nghĩa quan trọng, quyết định. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một yêu cầu tất yếu trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam hiện nay, vì để xây dựng và phát triển một nền kinh tế ổn định, vững chắc, với tốc độ nhanh đòi hỏi phải xác định được một cơ cấu kinh tế hợp lý, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng lãnh thổ và giữa các thành phần kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam hiện nay được thực hiện theo định hướng giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp và tăng nhanh tỷ trọng của ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong GDP. Ngày nay, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương đều không tách rời vai trò chủ động và sự điều tiết của Nhà nước. Nhà nước với chức năng quản lý kinh tế vĩ mô, luôn chủ động xác định phương hướng, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo các điều kiện, thực hiện các biện pháp thích hợp để thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ. Sau 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, cơ cấu kinh tế Việt Nam đã có bước chuyển dịch theo hướng tích cực, từ nền kinh tế nông nghiệp với hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần với cơ cấu công - nông nghiệp và dịch vụ.
Tuy nhiên, bước chuyển dịch về cơ cấu các ngành kinh tế còn chậm. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng 13 toàn quốc lần thứ IX đã xác định: trong năm năm tới phải "chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, phấn đấu đạt mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế là: tỷ trọng công nghiệp trong GDP từ 34,5% năm 2000 lên 40-41% năm 2005; dịch vụ từ 40,5% năm 2000 lên 42-43% năm 2005; nông nghiệp từ 25% năm 2000 giảm xuống 16-17% năm 2005. Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế chịu sự tác động của nhiều nhân tố, có nhân tố thúc đẩy sự chuyển dịch theo hướng tích cực, song cũng có những nhân tố kìm hãm sự phát triển. Các nhân tố ảnh hưởng đến cợ cấu kinh tế có thể chia thành 2 nhóm chủ yếu sau đây: 2.
Nhóm nhân tố tác động từ bên trong nên kinh tế: Thị trường và nhu câu tiêu dùng của xã hội: Thị trường và nhu cầu xã hội là động lực cho tất cả các ngành, lĩnh vực, bộ phận trong toàn bộ nên kinh tế phát triển. Nhu cầu là cơ sở cho tất cả các quá trình sản xuất trong khi thị trường là điêu kiện cho kinh tế hàng hoá phát triển. Thị trường và nhu cầu xã hội không chỉ quy định về số lượng mà cả về chất lượng các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của các cơ sở kinh tế, đến xu hướng phát triển và phân công lao động xã hội, đến vị trí, tỷ trọng của các ngành, lĩnh vực trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: Sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, thay đổi công nghệ, thiết bị, hình thành các ngành nghề mới và thay đổi cơ cấu ngành nghề.
Sự phát triển đó phá vỡ các cân đối cũ, hình thành một cơ cấu kinh tế với với vị trí, tỷ trọng các ngành và lĩnh vực phù hợp hơn, thích ứng được yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Quá trình đó diễn ra khách quan và từng bước tạo ra một cơ cấu kinh tế mới hợp lý hơn, có khả năng khai thác hiệu quả hơn nguồn lực trong và ngoài nước. Sự phát triển của lực lượng sản xuất là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu kinh tế.