Chương I: Tiềm năng và cơ hội xuất khẩu rau, hoa tươi khu vực các tinh phía Bắc. Chương Hl: Thực trạng xuất khẩu rau, hoa tươi khu vực các tỉnh phía Bắc. Chương II: Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau, hoa tươi khu vực các tỉnh phía Bắc. CHUONG I TIEM NANG VA CO HOI XUAT KHAU RAU, HOA TUGI KHU VUC CAC TINH PHIA BAC 1.
TIỀM NANG PHAT TRIEN NGANH RAU, HOA TUOI CUA CAC TINH PHÍA BAC 1. Điều kiện tự nhiên: Nằm ở phía bắc Việt Nam, các tỉnh phía Bắc cũng kế thừa được những lợi thế chung. Với vị trí địa lý ở phía Bắc, ngoài những lợi thế chung, các tỉnh phía Bắc còn có những tiềm năng và lợi thế đặc thù của mình. Các tỉnh phía Bắc gồm hai bộ phận chính là Đồng bằng sông Hồng và các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc.
Đồng bằng sông Hồng rộng gần 1,3 triệu ha, chiếm 3,8% diện tích toàn quốc với một vùng biển bao quanh ở phía Đông và Đông Nam. Số dân của đồng bằng khoảng 15,2 triệu người, chiếm 19,4% số dân của cả nước. Hiện tại cũng như tương lai, đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng có ý nghĩa then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích rộng lớn (102,9 ngàn km?), với vi trí địa lý đặc biệt, có thể giao lưu thuận lợi bằng đường sắt và đường ô tô với các tỉnh phía Nam Trung Quốc qua các cửa khẩu Lạng Sơn, Lào Cai và Móng Cái.
Các tỉnh phía Bắc nằm trên tuyến giao thông quan trọng nối với thế giới qua cảng hàng không Nội Bài, sân bay Cát Bi; cảng biển Hải Phòng, cảng Cái Lân và một số cảng khác. Cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân là một trong những cụm cảng nước sâu hàng đầu cả nước. Trong tương lai gần, một dự án lớn với tổng vốn đầu tư lên đến 15 tỷ USD phát triển đô thị và cảng container hàng đầu khu vực và châu Á tại Quảng Ninh có thể đón tàu trọng tải trên 100.000 tấn cập cảng. Việc này làm cho xuất khẩu rau, hoa của miền Bắc có thể vươn ra các thị trường truyền thống như: Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản,.và tới những thị trường triển vọng khác.
Khí hậu các tỉnh phía Bắc là khí hậu Á nhiệt đới. Nhóm rau ăn lá (bap cai, rau cải, rau ngót, rau muống, rau cần,.), và ăn củ - quả (su hào, dưa chuột, su sư, bí, cà chua,.) rất thích hợp với loại khí hậu này. Với các tỉnh phía Bắc, đặc điểm tự nhiên để phát triển rau, hoa có thể chia thành 2 vùng rõ rệt. Vung 1: Các tỉnh thuộc Đồng Bằng Bắc Bộ.
Đây là nơi có đất đai lý tưởng để phát triển rau và hoa, cả 4 mùa với năng suất khá cao; đảm bảo cho các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Quảng Ninh, Hải Dương,.Đồng thời, phục vụ chính cho gần 20 triệu đân ở miền Bắc. Các vùng rau lớn như Thanh Trì, Đông Anh (Hà Nội), Hải An (Hải Phòng), Mê Linh (Vĩnh Phúc) đã đưa năng suất 1 ha gieo trồng thu hoạch tới 100 triệu đồng/năm. Đặc biệt về vụ đông từ tháng 10 năm trước tới tháng 4 năm sau, đây là lúc thời tiết thích hợp, nhiệt độ bình quân ở miền Bắc khoảng 20°C, làm cho rau hoa trở thành cây vụ chính của nhiều hộ nông dân và cơ sở sản xuất đã tạo ra một sản lượng rất lớn. Trong thực tế, nhiều năm khi không có thị trường xuất khẩu rau trở nên quá dư thừa, tạo ra sự thua lỗ cho người sản xuất, nhà nước không tham gia điều tiết; thị trường nội địa bị ứ đọng,.
dẫn đến người sản xuất co lại không còn đám phát triển mạnh mặc dù năng lực sản xuất rau, hoa vẫn còn rất dư thừa. Vang 2: Vùng đổi núi trung du và vùng núi phía Bắc mà đặc trưng là một số tỉnh có khả năng sản xuất các vùng rau hoa tập trung lớn như Sapa và một số huyện của Lào Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng, vùng Tam Đảo của Vĩnh Phúc,.Ở đây, điều kiện khí hậu rất lý tưởng: Quanh năm nhiệt độ ôn hoà, độ ẩm cao, đất đai phì nhiêu rất thích hợp với các loài rau quả như: cải bắp, xu hào, su su,.Ở vùng giáp biên giới của Cao Bằng, Lạng Sơn, cũng như trên vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc các loại rau, hoa đặc trưng của vùng này. Ở Sapa có thể trồng rau mùa đông và sản xuất hạt giống quanh năm. Tuy nhiên, ở những vùng này do tập quán dân cư, trình độ thâm canh tăng vụ và thị trường chưa phát triển nên còn rất hạn chế đến việc sản xuất rau và hoa.
Nếu có sự tác động tích vào năng lực sản xuất và tìm kiếm thị trường xuất khẩu thì đây là một tiềm năng lớn sẽ được khơi dậy, tạo ra triển vọng của giai đoạn sắp tới cho nghề rau hoa xuất khẩu. Nguôn nhân lực: Đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư đông đúc nhất trong cả nước. Mat độ dân số trung bình lên tới 1.200 người/kmZ. Mật độ này cao gấp 5 lần mật độ trung bình của toàn quốc; gấp 3 lần so với đồng bằng sông Cửu Long; gấp 10 lần so với khu vực miền núi và trung du Bắc Bộ; gấp L7,6 lần so với Tây Nguyên.
Những nơi đân cư đông nhất là Hà Nội, Thái Bình, Hải Phòng, Hưng Yên. Ở những nơi khác thuộc khu vực rìa phía Bắc và Đông Bắc dân cư thưa hơn. Sự phân bố dân cư quá đông ở đồng bằng sông Hồng liên quan tới nhiều nhân tố. Nền nông nghiệp thâm canh cao với nghề trồng lúa là chủ yếu đồi hỏi phải có nhiều lao động.
Trong vùng còn có nhiều trung tâm công nghiệp quan trọng và một mạng lưới các đô thị khá dày đặc. Ngoài ra, đồng bằng sông Hồng đã được khai thác từ lau đời và có các điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho hoạt động sản xuất và cư trú của con người. Các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc có dân số thưa hơn. Tuy nhiên, ở những vùng có thể trồng trọt và trồng rau hoa như Sapa, Lào Cai,.
thì dân số cũng đông, khoa học kỹ thuật ngày càng được ứng dụng phổ biến ở đây. Dân số ở các tỉnh phía Bắc cũng như cả nước thuộc loại dân số trẻ. Trong độ tuổi lao động là 59,3%, dưới độ tuổi lao động là 33,1%, ngoài độ tuổi lao động là 7,6%. Hàng năm, xã hội có thêm khoảng 1,5 triệu lao động mới.
Xét về chất, người Việt Nam có thể chất thông minh, có khả năng tiếp thu nhanh khoa học công nghệ; đây được coi là tiềm năng quan trọng trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Giá nhân công rẻ là một lợi thế của Việt Nam trong phân công lao động quốc tế. Đây cũng là yếu tố thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua. Tuy nhiên, lao động Việt Nam cũng còn hạn chế về năng suất lao động, ý thức tổ chức kỷ luật, đòi hỏi cần có giải pháp khắc phục mới đáp ứng được yêu cầu của phân công lao động quốc tế.
Vì vậy, với dân số trẻ và đông, với trình độ khoa học tập trung ở đồng bằng sông Hồng, là một lợi thế so với các nước trong phát triển rau, hoa tươi với số lượng lớn, kỹ thuật cao, công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, khi một thời gian, khi đời sống được nâng cao, đặc biệt hạu WTO có cơ hội để làm giàu thì lợi thế về giá lao động rẻ sẽ giảm dần. Do đó, cần tích cực bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn là một điểm cần chú ý đối với các tỉnh miền Bắc nói riêng và cả nước nói chung. Tiêm năng các loại rau, hoa tươi xuất khẩu và kỹ thuật sản xuất: 3.
Đối với rau: - Diện tích, sản lượng: Tính đến hết năm 2005, tổng diện tích trồng rau các loại trên cả nước đạt khoảng 635,8 ngàn ha, sản lượng 9. So với năm 1999, diện tích tăng 175,5 ngàn ha (tốc độ tăng bình quân 3,61%/năm), sản lượng tăng 3. Diện tích và sản lượng rau Diện tích (1.000 ha) Sản lượng (1.000 tấn) St Ving Nam Nam Tang Nam Nam Tang 1999 2005 | giam(%) | 1999 2005 | giam (%) 1 | Mién Bac 187,4 249,7 33,24 | 2. | Ty trong (% ÿ trọng (%) 4077| 39432 4535| 40,05 Miền bắc/Cả nước Riêng miền Bắc năm 2005, diện tích trồng rau chiếm 39,32%, sản lượng chiếm 40,05% so với cả nước.
Có thể nói đây là vùng có điều kiện về diện tích và sản lượng rau lớn cung cấp cho cả nước và cho xuất khẩu. Trong đó, sản xuất rau ở Hà Nội năm 2005: tổng diện tích gieo trồng rau các loại là 8,1 ngàn ha (điện tích canh tác là 3 ngàn ha, hệ số sử dụng đất là 2,7 lần), năng suất đạt 186,2 ta/ha, sản lượng 150,8 ngàn tấn. - Các loại rau xuất khẩu: Rau của nước ta phong phú về chủng loại, gồm 70 loại cây chủ yếu. Đặc biệt các tỉnh phía Bắc có rau vụ Đông là một trong những lợi thế của Việt Nam so với một số nước trên thế giới.
Các loại rau chủ yếu gồm cải bắp, su hào, cà chua, dưa chuột, ớt cay, nấm, khoai tây. Đối với miền Bắc, trồng rất nhiều loại rau phục vụ cho đời sống của các tỉnh phía Bắc và cả nước. Tuy nhiên, việc xuất khẩu có thể tập trung chính vào một số loại rau sau: + Rau ăn quả: ớt, dưa chuột, cà chua, ngô ngọt, ngô bao tử, bí xanh,. + Rau ăn lá: bắp cải, cải xanh, rau cần, mùi tau, sa lát, hành lá,.
+ Rau ăn củ: hành tây, tỏi tây, măng ngọt, khoai tây,. Dự báo một xuất khẩu một số rau vụ Đông của miền Bắc: Đứa chuột: Trồng thành vùng tập trung chuyên canh tại Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nam, Hà Nội.000 tấn nguyên liệu để đóng hộp, đóng lọ, muối mặn xuất khẩu. Riêng 10 tháng năm 2006, các tỉnh miền Bắc đã xuất khẩu được 1.675 USD sang các thị trường như Đài Loan, Mỹ, Bungarni, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nga, Nhật Bản, Ukraina. Dự kiến diện tích trồng dưa chuột xuất khẩu khoảng 3.
Cà chua: Dự kiến trông 7.000 ha để đạt sản lượng 100.000 tấn, sử dụng làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu cà chua cô đặc, tương ớt. Khoai tây: Dự kiến trồng khoảng 15.000 ha tại các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Nam Hà, Thái Bình để đạt sản lượng khoảng 140. Dự kiến dùng cho xuất khẩu 30 - 40.000 tấn, sang thị trường EC khoảng 80%, Hồng Kông, Nhật Bản, Singapore là 15%. Chỉ tính 10 tháng năm 2006, khoai xuất khẩu đạt 902.