CHƯƠNG 1: CO SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE TÁC DONG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI DEN XUÁT KHẨU CUA NƯỚC NHẬN DAU TƯ 1. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài và thương mại quốc tế 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign direct investment - FDI): FDI là hình thức đầu tư rất phô biến của đầu tư quốc tế, vi vậy có rất nhiều cách định nghĩa FDI của các tổ chức khác nhau: Theo định nghĩa của IMF (International Monetary Fund) trong Balance of payments manual, Fifth edition, 1993: "dau tu trực tiếp nước ngoài là loại hình dau tư quốc tế mà nhà dau tư nước này đặt lợi ích dài hạn trong các công việc dau tư và kinh doanh ở doanh nghiệp tại một nước khác. Mục tiêu của nhà đầu tư là giành được một mức độ ảnh hưởng hiệu quả trong quản lý." Theo định nghĩa cua OECD trong The Detailed Benchmark Definition of Foreign Investment, Third edition, 1996: "dau tw trực tiép nước ngoài thể hiện mục tiêu đạt được lợi ích dài hạn của một nhà dau tư vào một nên kinh tế.
Lợi ích dài hạn nghĩa là sẽ ton tại một mối quan hệ lâu dài giữa nhà dau tư trực tiếp và doanh nghiệp; và nha đâu tư sẽ có một mức độ ảnh hưởng đáng kể trong quản lý doanh nghiệp." Đặc điểm i) Các chủ dau tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiêu tùy theo quy định của luật đầu tư từng nước. Tùy thuộc vào tình hình kinh tế, mục tiêu thu hút vốn và nhu cầu quản lý, các nước quy định các tỷ lệ góp vốn tối thiêu khác nhau. IMF đưa ra một ngưỡng góp vốn tối thiểu là 10% tong vốn đầu tư. ii) Quyền điều hành doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư trong vốn pháp định.
Mức độ góp vốn càng cao thì mức độ ảnh hưởng của nhà đầu tư cảng lớn. Nếu góp 100% vốn pháp định thì nhà đầu tư toàn quyền quyết định hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình điều hành quản lý doanh nghiệp giúp đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. iii) Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được chia theo tỷ lệ góp vốn trên vốn pháp định sau khi đã nộp thuế cho nước sở tại và trả cô tức nếu có.
Với FDI, các nhà đầu tư tự mình hạch toán lợi nhuận và chịu trách nhiệm về việc kinh doanh của mình do đó không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế. iv) FDI thường đi kèm với chuyên giao công nghệ. Dù có hay không có chủ ý thi trong quá trình chuyên von vào một nước nhà dau tư cũng đem lại kèm theo dòng von đó máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất. Hơn nữa, để hoạt động có hiệu quả nhà đầu tư cũng sẽ áp dụng những kinh nghiệm quản lý mới và tăng cường đảo tạo nhân lực.
Chính vì đặc điểm này mà các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển luôn chú trọng thu hut FDI dé nhanh chóng hiện dai hóa nên kinh tế. Thương mại quốc tế Khái niệm thương mại quốc tế Luật Thương mại Việt Nam 2005 có nêu cách hiểu về hoạt động thương mại như sau: Hoạt động thương mai là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gom mua ban hàng hóa, cung ứng dich vu, đầu tu xúc tiến thương mai và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác, Điều 3 khoản 1, luật thương mại Việt Nam 2005. Như vậy, khái niệm “thương mại” cần được hiéu là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường. Nếu hoạt động trao đôi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa) vượt ra khỏi biên giới quốc gia mình thì người ta gọi đó là thương mại quốc tế (ngoại thương).
Thương mại quốc tế (ngoại thương) là một ngành kinh tế thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa giữa thị trường trong nước và thi trường nước ngoài. Nói cách khác thương mại quốc tế là sự trao đổi dưới hình thức mua bán hàng hóa và những dịch vụ kèm theo như lắp ráp, bảo hành, bảo hiểm, thanh toán quốc tế, vận tải quốc tế của một quốc gia này với một quốc gia khác hoặc một tô chức quốc tế. Đặc điễm của thương mại quốc tế Xuất phát từ định nghĩa, thương mại quốc tế có những đặc điểm sau: i) Chủ thé là những nhà xuất nhập khẩu mang quốc tịch khác nhau (hoặc có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau) vì ngoại thương thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa vượt ra khỏi biên giới một quốc gia. ii) Đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế là tài sản; do được đem ra mua bán, tài sản này biến thành hàng hóa.
Hàng hóa này có thé là hàng đặc định (specific goods) và cũng có thé là hàng đồng loại (generic goods). Hàng hóa — đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế được di chuyền ra khỏi biên giới quốc gia. ii) Đồng tiền thanh toán sử dụng trong các hoạt động thương mại quốc tế là ngoại tệ đối với một trong hai hoặc tất cả bên tham gia. iv) Thương mai theo giá cả và thanh toán mang tính quốc tế.
Hang hóa muốn bán được trên thị trường quốc tế phải phù hợp với giá cả của hàng đồng loại của những nhà cung cấp chính và phương thức thanh toán cũng phải phù hợp với yêu cầu của khách hàng nước ngoài và tập quán quốc tế. Mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở nước nhận đầu tư 10 1. Một số lý thuyết và nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu 1. Lý thuyết về vòng đời quốc tế của sản phẩm — IPLC — Raymond Vernon Lý thuyết này được S.
Hirsch đưa ra trước tiên và sau đó được R. Vernon phát triển một cách có hệ thống từ năm 1966. Hai ý tưởng làm căn cứ xuất phát của lý thuyết này rất đơn giản, đó là: (1) Mỗi sản phẩm có một vòng đời, từ khi xuất hiện cho đến khi bị đào thải; vòng đời này dài hay ngắn tuỳ vào từng sản phẩm; (2) Các nước công nghiệp phát triển thường nắm giữ những công nghệ độc quyền do họ khống chế khâu nghiên cứu và triên khai và do có lợi thê vê quy mô. Theo lý thuyết này, ban đầu phan lớn các sản phẩm mới được sản xuất tại nước phát minh ra nó và được xuất khẩu đi các nước khác.
Nhưng khi sản phẩm mới đã được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản xuất bắt đầu được tiến hành ở các nước khác. Kết là sản phẩm sau đó có thé sẽ được xuất khẩu trở lại nước phát minh ra nó. Cụ thê vòng đời quôc tê của một sản phâm gồm 3 giai đoạn: + Giai đoạn 1: Sản phẩm mới xuất hiện, cần thông tin phản hôi nhanh xem có thoả mãn nhu cau khách hàng không và được bán ở trong nước cũng là dé tối thiểu hoá chi phí. Xuất khẩu sản phẩm giai đoạn này không đáng kế.
Người tiêu dùng chú trọng đến chất lượng và độ tin cậy hơn là giá ban sản phẩm. Qui trình sản xuất chủ yếu là sản xuất nhỏ. + Giai đoạn 2: Sản phẩm chín mudi, nhu cau tăng, xuất khẩu tăng mạnh, các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước xuất hiện vì thấy có thé kiếm được nhiêu lợi nhuận. Nhưng dan dan nhu cầu trong nước giảm, chỉ có nhu cầu ở nước ngoài tiếp tục tăng.
Xuất khẩu nhiễu (đạt đến đỉnh cao) và các nhà máy ở nước ngoài bắt dau được xây dựng (sản xuất mở rộng thông qua FDI). Giá trở thành yếu t6 quan trọng trong quyết định của người tiêu dùng. + Giai đoạn 3 : Sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, thị trường ổn định, hàng hóa trở nên thông dụng, các doanh nghiệp chịu áp lực phải giảm chỉ phí càng nhiễu càng tot dé tăng lợi nhuận hoặc giảm giá dé tăng năng lực cạnh tranh. Cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các thị trưởng trong nước trì trệ, cần sử dụng lao động rẻ.
Sản xuất tiếp tục được chuyển sang các nước khác có lao động rẻ hơn thông qua FDI. Nhiều nước xuất khẩu sản phẩm trong các giai đoạn trước (rong đó có nước phát mình ra sản phẩm) nay trở thành nước chủ dau tư và phải nhập khẩu chính sản phẩm đó vì sản phẩm sản 11 xuất trong nước không còn cạnh tranh được về giá bán trên thị trường quốc tế. Các nước này nên tập trung dau tư cho những phát minh mới. Lý thuyết này lý giải cả đầu tư quốc tế lẫn thương mại quốc tế, coi đầu tư quốc tế là một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời sản phẩm.
Lý thuyết này cho thấy vai trò của các phát minh, sáng chế trong thương mại và đầu tư quốc tế bằng cách phân tích quá trình quốc tế hoá sản xuất theo các giai đoạn nối tiếp nhau. Ưu điểm của lý thuyết này là đưa vào được nhiều yếu tô cho phép lý giải su thay đổi theo ngành hoặc việc dich chuyên dần các hoạt động công nghiệp của các nước tiên phong về công nghệ, trước tiên là đến các nước "bắt chước sớm", sau là đến các nước "bắt chước muộn". Theo lý thuyết này, có thé nhận thay FDI vừa thay thé lại vừa b6 sung cho thương mại quốc tế, FDI làm giảm nhập khẩu thành phẩm từ nước chủ đầu tư sang nước nhận đầu tư, mặt khác lại làm tăng nhập khâu máy móc, nguyên liệu từ nước chủ đầu tư sang nước nhận đầu tư, tăng xuất khâu từ nước nhận đầu tư sang nước chủ đầu tư và ra thị trường thế gidi.2 Lý thuyết về thương mai quốc té và tính lưu động của yếu tô sản xuất - “International trade and Factor mobility ”- Mundell. Trong nghiên cứu này dựa vào mô hình H-O-S, Mundell đã chỉ ra rằng có sự thay thé giữa dòng thương mại quốc tế và dòng di chuyền các yếu tố sản xuất.
Trong cùng các điều kiện giả thuyết như mô hình H-O-S, sự lưu chuyên hoàn hảo của các yếu tố sản xuất giữa các khu vực trong nền kinh tế tạo nên xu hướng san bằng giá cả hàng hóa ngay cả khi không có thương mại quốc tế. Kết luận này đã bé sung cho định lý của Stolper-Samuelson nói về xu hướng san bằng giá cả như là hệ quả của việc trao đổi hàng hóa ngay cả khi không có sự di chuyển quốc tế của các nhân tổ sản xuất. Mundell nghiên cứu mối quan hệ giữa luồng di chuyền các yếu tố sản xuất và hàng hóa quốc tế trong mô hình H-O-S.