Chương 1: Cơ sở lý luận về cho vay khách hàng cá nhân và chất lượng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại. 8 Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VÀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại Khách hàng là những cá nhân hay tổ chức mà doanh nghiệp đang hướng các nỗ lực Marketing vào.
Họ là người có điều kiện ra quyết định mua sắm. Khách hàng là đối tượng được thừa hưởng các đặc tính, chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ. Theo như Tom Peters đã từng chia sẻ rằng: Khách hàng là tài sản làm tăng thêm giá trị. Và dĩ nhiên nó là tài sản quan trọng nhất mặc dù giá trị của họ không được ghi nhận trong báo cáo công ty.
Vậy nên các công ty cần luôn luôn xem khách như là nguồn vốn cần được quản lý và không ngừng huy động vốn. Người cha đẻ của ngành quản trị – Peters Drucker – thì nhận định tạo ra khách hàng là mục tiêu của công ty. Khi phục vụ khách, hãy tâm niệm rằng không phải chúng ta giúp đỡ họ mà họ đang giúp đỡ chúng ta bằng cách cho chúng ta cơ hội để phục vụ. Theo Wal-Mart thì cho rằng: Khách hàng là người không phụ thuộc vào chúng ta mà là ngược lại.
Vậy nên họ không đi tìm chúng ta, chúng ta phải đi tìm họ. Bán thứ khách cần chứ không phải thứ ta có. Khách hàng ban ơn cho ta khi họ đến mua sắm còn ta chẳng ban ơn gì cho họ khi cung cấp sản phẩm dịch vụ.Vậy phục vụ khách hàng là nghĩa vụ – bổn phận – trách nhiệm. Khách hàng là một phần trong cuộc và vô cùng quan trọng đối với công việc của chúng ta nên hãy luôn lịch sự và hiểu họ.Không có khách hàng không có lợi nhuận đồng nghĩa với phá sản.
Khách hàng mang đến nhu cầu và việc của người bán hàng là thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của họ.Và nếu chúng ta không có cái khách cần thì đó là lỗi của chúng ta. Hướng tới cảm xúc khách hàng: Truyền đạt thông điệp chạm tới cảm xúc khách hàng có nghĩa bạn đã marketing thành công. 10 Thông qua các quan điểm của các học giả kinh tế, tác giả tổng hợp khái niệm về KHCN như sau: Khách hàng cá nhân của ngân hàng là một người hoặc nhóm người đã, đang, sẽ sử dụng dịch vụ và sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng phục vụ cho mục đích cá nhân hoặc gia đình của họ.2 Đặc điểm, vai trò khách hàng cá nhân của NHTM 1.1 Đặc điểm khách hàng cá nhân của NHTM Khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại có những đặc điểm sau: Thứ nhất: Số lượng lớn nhưng qui mô mỗi khách hàng nhỏ. KHCN là những khách hàng đơn lẻ, hoặc một vài người có sử dụng dịch vụ ràng buộc của ngân hàng cung cấp.
Do đó số lượng khách hàng lớn, song lượng vốn chuyển giao với ngân hàng nhỏ. Tuy nhiên, số lượng khách hàng cá nhân chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lượng khách hàng trong NHTM, đặc biệt trong thời kỳ bão hòa về các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng như hiện nay, ngân hàng nào có tỷ trọng khách hàng cá nhân lớn hơn sẽ chiếm ưu thế cả về thị phần và lợi nhuận trong quá trình hoạt động. Thứ hai: Khách hàng cá nhân đa dạng về tuổi tác, giới tính, thu nhập, trình độ văn hóa, sở thích… Do đó các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng luôn đa dạng để phục vụ cho từng đối tượng khách hàng cá nhân tương ứng với những đặc điểm riêng của họ. Thứ ba: nhu cầu thường xuyên thay đổi và gia tăng.
Trước đây, hoạt động ngân hàng tập trung chủ yếu bởi hoạt động huy động, cho vay và thanh toán quốc tế phục vụ cho các KHCN. Tuy nhiên hiện nay, ngoài hoạt động truyền thống, các ngân hàng lại cạnh tranh nhau về các tiện ích mà ngân hàng cung cấp cho KHCN. Do đó, nếu ngân hàng nào đưa ra nhiều tiện ích phục vụ nhu cầu của KHCN mà chi phí lại hợp lý thì sẽ thu hút khách hàng về phía mình. Vai trò khách hàng cá nhân trong ngân hàng thương mại Vai trò của khách hàng cá nhân đối với NHTM thể hiện ở những điểm sau: 11 Khách hàng là mục tiêu, là người quyết định sự sống còn của ngân hàng.
Khách hàng cá nhân chính là người tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng. Do đó, các ngân hàng luôn không ngừng cung cấp các sản phẩm dịch vụ nào đó, vượt trội hơn các ngân hàng khác để thu hút lượng khách hàng cá nhân có nhu cầu trong thị trường cạnh tranh như hiện nay. Khách hàng cá nhân tạo ra thu nhập cho ngân hàng: Thông qua việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung cấp, khách hàng cá nhân phải trả lãi, phí cho ngân hàng. Do đó, khách hàng cá nhân đóng góp một lượng lớn lợi nhuận vào thu nhập trong hoạt động kinh doanh của Ngân hang.2 Cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại Theo Luật số 47/2010/QH12 của Quốc hội ban hành Luật các tổ chức tín dụng có định nghĩa: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN và Quyết định số 457/2005/QĐ- NHNN của NHNN ban hành Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng có định nghĩa về khách hàng cá nhân như sau: Một khách hàng là cá nhân có quan hệ tín dụng với tổ chức tín dụng; là thành viên của hộ gia đình theo quy định tại Bộ Luật dân sự mà hộ gia đình đang là khá/ch hàng của tổ chức tín dụng; hoặc tổ viên tổ hợp tác theo quy định tại Bộ Luật dân sự mà tổ hợp tác đang là khách hàng của tổ chức tín dụng; hoặc cán bộ công nhân viên đang công tác tại công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân mà các công ty, doanh nghiệp đang là khách hàng của tổ chức tín dụng. Như vậy, ta có thể hiểu: Cho vay khách hàng cá nhân là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao cho khách hàng cá nhân một khoản tiền để sử 12 dụng vào mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng.2 Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Cho vay khách hàng cá nhân có nhiều đặc điểm riêng biệt so với cho vay các đối tượng khách hàng thuộc các thành phần kinh tế khác như sau: - Thời hạn của các khoản vay ngắn: Với khách hàng doanh nghiệp thì các khoản vay thường được sử dụng vào mục đích tài trợ cho sản xuất kinh doanh trên quy mô lớn, đầu tư tài sản cố định giá trị cao hay xây dựng nhà xưởng, dây chuyền sản xuất… cần thời gian dài. Còn khách hàng cá nhân vay vốn với mục đích tiêu dùng, sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ nên chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn hầu như rất ít. - Các khoản vay có độ rủi ro cao: Các khoản vay của khách hàng cá nhân thường được đảm bảo bằng chính thu nhập của cá nhân đó.
Tuy nhiên, nếu khách hàng gặp phải bất trắc như ốm đau, bệnh tật, tử vong… thì ngay lập tức thu nhập đó giảm sút hoặc thậm chí có thể mất đi hoàn toàn. NHTM luôn phải đối mặt với những rủi ro đó, mà công tác thẩm định, quản lý khách hàng cá nhân lại không thể kiểm soát chặt chẽ được hết tất cả. Chính vì điều này, nhiều NHTM trong một thời gian dài trước đây rất ngại cho khách hàng cá nhân vay vốn. Nhưng hiện nay, nhận thấy hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân mang lại một nguồn thu nhập đáng kể nên các NHTM đã tập trung hướng tới mục tiêu này và công tác quản lý rủi ro ngày càng được các ngân hàng quan tâm, chú trọng hơn.
- Khoản vay có giá trị nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn: Đặc điểm của khách hàng cá nhân là vay vốn với mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ nên món vay thường có giá trị nhỏ hơn so với món vay của các doanh nghiệp rất nhiều. Tuy nhiên, đối tượng khách hàng cá nhân lại là đông đảo nhất, các khoản vay thường xuyên phát sinh khi khách hàng có nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh. Do đó, số lượng các khoản vay nhiều dẫn đến lợi 13 nhuận từ hoạt động cho vay khách hàng cá nhân là khá cao nếu ngân hàng biết cách thu hút khách hàng và làm tốt các công tác quản lý có liên quan khác. - Chi phí thẩm định lớn: Để tránh gặp phải những rủi ro trong hoạt động cho vay, ngân hàng thường tiêu tốn nhiều thời gian và tiền bạc vào hoạt động thẩm định và giám sát khoản vay một cách nghiêm ngặt.
Ngoài ra, việc thu thập thông tin cá nhân là rất khó khăn, thường không đầy đủ và thiếu chính xác. Chính những điều này đã gây trở ngại cho cán bộ tín dụng từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định các nguồn trả nợ, giải ngân và thu nợ của khách hàng vay vốn. Vì vậy, các NHTM sẽ chấp nhận chi phí cao để đánh đổi rủi ro cao, đảm bảo an toàn cho các món vay. - Lãi suất thường cao hơn lãi suất của các khoản vay khác: Do khối lượng giao dịch của mỗi khoản vay thường không lớn nhưng chi phí bỏ ra trong khâu thẩm định và quản lý khoản vay lại rất lớn nên các NHTM phải đề ra mức lãi suất cao để bù đắp chi phí như chi phí về thời gian, nhân lực, thẩm định, quản lý… 1.