Luận án về phát triển ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử xuất khẩu của Đà Nẵng

Chuyên khảo kỹ thuật phân tích Luận án phát triển ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử hướng về xuất khẩu của thành phố đà, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Ngành Công Nghiệp Điện Tử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

227
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

2.1. Các nghiên cứu về lý luận phát triển ngành CNSXSPĐT hướng về XK theo hướng CNH hướng về XK

2.2. Các nghiên cứu chính sách mô hình SX của ngành

2.3. Nghiên cứu chính sách về quy mô phát triển ngành

2.4. Phát triển ngành CNSXSPĐT hướng về XK cần thiết phải nghiên cứu đến ngành công nghiệp liên quan là ngành CNHT

2.5. Các nghiên cứu chính sách hướng về XK cho ngành CNSXSPĐT

2.6. Nghiên cứu chính sách phát triển ngành cần thiết phải nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá chính sách

2.7. Các nghiên cứu về kinh nghiệm phát triển ngành CNĐT

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Tóm tắt

I. Giới thiệu về ngành công nghiệp điện tử tại Đà Nẵng

Ngành công nghiệp điện tử tại Đà Nẵng đang có những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu. Ngành công nghiệp điện tử xuất khẩu không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân địa phương. Đà Nẵng, với vị trí địa lý thuận lợi và hạ tầng phát triển, đã trở thành một trong những trung tâm công nghiệp lớn của miền Trung. Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm điện tử của Đà Nẵng đã tăng trưởng ổn định trong những năm qua, tuy nhiên vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

1.1. Tình hình phát triển ngành công nghiệp điện tử

Ngành công nghiệp điện tử tại Đà Nẵng đã có những bước tiến đáng kể trong việc thu hút đầu tư và phát triển sản xuất. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này chủ yếu hoạt động trong các khu công nghiệp, nơi có hạ tầng kỹ thuật tốt và chính sách ưu đãi từ chính quyền địa phương. Tuy nhiên, doanh nghiệp điện tử tại Đà Nẵng vẫn chủ yếu hoạt động theo mô hình gia công lắp ráp, chưa phát triển mạnh mẽ về công nghệ và sản phẩm. Điều này dẫn đến việc kim ngạch xuất khẩu sản phẩm điện tử của Đà Nẵng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

II. Chính sách phát triển ngành công nghiệp điện tử

Chính sách phát triển ngành công nghiệp điện tử tại Đà Nẵng đã được chính quyền địa phương chú trọng trong những năm qua. Các chính sách này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư công nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia vào lĩnh vực sản xuất sản phẩm điện tử. Đặc biệt, chính sách phát triển chuỗi cung ứng điện tử đã được triển khai nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành. Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách này vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc thu hút đầu tư và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

2.1. Các chính sách ưu đãi và hỗ trợ

Chính quyền Đà Nẵng đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào ngành công nghiệp điện tử. Các chính sách này bao gồm miễn giảm thuế, hỗ trợ về mặt hạ tầng và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn. Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách này còn thiếu đồng bộ và chưa thực sự hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực cần thiết để phát triển sản xuất và mở rộng quy mô. Do đó, cần có những giải pháp cụ thể hơn để nâng cao hiệu quả của các chính sách này.

III. Thách thức và cơ hội phát triển

Ngành công nghiệp điện tử tại Đà Nẵng đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự cạnh tranh gay gắt từ các địa phương khác và sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Tuy nhiên, cũng có nhiều cơ hội để phát triển, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Việc tham gia vào các hiệp định thương mại tự do sẽ mở ra nhiều cơ hội cho xuất khẩu điện tử của Đà Nẵng. Để tận dụng được những cơ hội này, ngành công nghiệp điện tử cần phải đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm.

3.1. Cơ hội từ hội nhập kinh tế

Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội cho ngành công nghiệp điện tử tại Đà Nẵng. Các hiệp định thương mại tự do giúp giảm thuế xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường quốc tế. Tuy nhiên, để tận dụng được những cơ hội này, các doanh nghiệp cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Việc đầu tư vào công nghệ mới và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là yếu tố quan trọng để ngành công nghiệp điện tử tại Đà Nẵng có thể phát triển bền vững trong tương lai.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT SẢN PHẨM ĐIỆN TỬ HƯỚNG VỀ XUẤT KHẨU CỦA MỘT THÀNH PHỐ 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT SẢN PHẨM ĐIỆN TỬ HƯỚNG VỀ XUẤT KHẨU 1.1 Khái niệm, đặc điểm của ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử hướng về xuất khẩu 1.1 Sản phẩm điện tử a, Khái niệm. Theo UN Trade Statistics (Lall, 2000) [145], sản phẩm điện tử (SPĐT) là các sản phẩm có chứa thiết bị điện tử xử lý các dữ liệu thông tin (Phụ lục số 1). Thiết bị điện tử là các công cụ điện tử được tạo ra từ các vật dẫn điện (điện trở, tụ điện, cuộn cảm.) và bán dẫn điện (Đi-ốt,Tran-si-to, IC, FET, JFET, MOSFET.) có chức năng điều khiển dòng điện, ví dụ: hệ thống điều khiển mở tắt của bếp điện tử. Các SPĐT là kết quả được tạo ra từ ngành CNSXSPĐT, thể hiện trình độ công nghệ của ngành CNSXSPĐT.

b, Đặc điểm của sản phẩm điện tử - Sản phẩm điện tử có cấu tạo phức tạp, tinh vi được thiết kế, chế tạo bởi công nghệ hiện đại, tiên tiến nhất. Sản phẩm điện tử được thiết kế, chế tạo bởi các máy móc, thiết bị ở một trình độ khoa học công nghệ (KHCN) tinh vi vào loại tiên tiến nhất (công nghệ Micro, Nano). Sản xuất SPĐT có một quá trình kế thừa và phát triển qua hàng trăm năm bởi các phát minh, nghiên cứu, ứng dụng. Vì vậy, các nước đã tạo dựng một lịch sử phát triển có rất nhiều lợi thế về hàm lượng trí tuệ, trình độ công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) mà các nước đi sau khó sánh kịp.

Đặc điểm này cho thấy, các quốc gia đi sau cần rút ngắn khoảng cách tiếp cận các yếu tố trên. - Sản phẩm điện tử sử dụng khá ít nguyên vật liệu, nhưng hàm lượng trí tuệ rất cao. SPĐT là tập hợp từ nhiều linh kiện điện tử rất nhỏ, được làm từ nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau như: vàng hợp kim, bạc, đồng, nickel, crom, nhôm, chì; có loại chống ăn mòn như: nhựa và các vật liệu dầu khí. Tuy sử dụng khá ít nguyên vật liệu, nhưng hàm lượng trí tuệ trong sản phẩm rất cao, tạo ra giá trị gia tăng cao so với các sản phẩm khác.

Do vậy, để SX SPĐT đòi hỏi phải có NNLCLC trong lĩnh vực này. - Sản phẩm điện tử là sản phẩm cách mạng nhất nhưng lại có vòng đời khá ngắn. SPĐT luôn được các nhà khoa học tim tòi, đổi mới, rút gọn, nhỏ hơn, bền hơn, thông minh hơn, nên vòng đời thường ngắn hơn các sản phẩm khác. Đặc điểm này cho thấy SPĐT sẽ khó tiêu thụ nếu không đuổi bắt kịp các công nghệ mới nhất, các nước 11 không chú trọng đầu tư, nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D: Research and Development) để đuổi kịp với các nước tiên tiến sẽ khó tồn tại trong lĩnh vực này.

- Sản phẩm điện tử có mặt trong hầu hết các sản phẩm phục vụ sản xuất, nghiên cứu và tiêu dùng. Tỷ lệ các sản phẩm sử dụng điện năng trong đời sống và SX rất cao, các sản phẩm này đều có bộ vi mạch sử lý bằng các linh kiện điện tử ngày càng thông minh và tiện ích hơn, góp phần năng cao năng suất lao động, tiện lợi trong đời sống, SX. Đặc điểm này chứng minh được vai trò quan trọng và nhu cầu càng gia tăng của SPĐT; ngành CNSXSPĐT được các quốc gia xem là ngành công nghiệp mũi nhọn.2 Ngành công nghiệp điện tử a, Ngành công nghiệp. Theo Từ điển Cambridge Dictionary (Cambridge University Press, 2019), ngành công nghiệp là một ngành kinh tế bao gồm những người và hoạt động liên quan đến một loại hình SX hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ.

Ở VN, theo TT 04/TT-BKHCN, ngày 08.2014 về Hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ SX của Bộ KHCN môi trường [12], ngành công nghiệp SX là tập hợp các doanh nghiệp SX cùng một nhóm sản phẩm thuộc phân ngành cấp 2 của công nghiệp chế biến, chế tạo trong hệ thống ngành kinh tế. Như vậy, một ngành công nghiệp cụ thể sẽ được đặt tên theo sản phẩm chính của nó. Ví dụ: ngành công nghiệp ô tô, ngành công nghiệp điện tử. Trong thống kê học, các ngành công nghiệp được tập hợp theo một mã số thống nhất.

Mặc khác, các hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động công nghiệp nói riêng khi đạt được một quy mô kinh tế nhất định mới trở thành một ngành độc lập. Việc nghiên cứu, nắm bắt khái niệm ngành công nghiệp giúp xác định và giới hạn được phạm vi nghiên cứu cho một ngành hay phân ngành công nghiệp cụ thể. b, Ngành công nghiệp điện tử. Theo (Từ điển Bách khoa toàn thư của Đại học Columbia Hoa Kỳ, 2010), là ngành kinh doanh chế tạo ra, SX và bán các thiết bị như: radio, tivi, máy hát stereo, máy tính, chất bán dẫn, bóng bán dẫn, và các mạch tích hợp.

Kết hợp với các khái niệm về ngành công nghiệp ở trên, khái niệm cho ngành CNĐT như sau: Ngành công nghiệp điện tử là một ngành kinh tế, thuộc phân ngành chế biến, chế tạo, các hoạt động của nó có tính chất tập trung cao về tư liệu, công nghệ SX, nhân công và sản phẩm, nhiều hoạt động liên quan như thiết kế, chế tạo, nghiên cứu, phát triển, SX, kinh doanh SPĐT. Ngành CNĐT có quy mô và cấu tạo phân ngành khá phức tạp theo sự phân công lao động tạo thành các chuỗi giá trị ngành có tính chất quốc gia, khu vực và toàn cầu mà sản phẩm cuối cùng của nó là SPĐT được SX ra để kinh doanh và sử dụng cho các ngành công nghiệp khác hoặc tiêu dùng.3 Ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử hướng về xuất khẩu a, Ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử. Theo Eurostat Statistics Explained (Tổ chức thống kê giải thích Châu Âu) [140], ngành CNSXSPĐT là ngành công nghệ cao, SX máy tính, các SPĐT và quang học (mã 26). Theo tiêu chuẩn phân 12 loại các ngành công nghiệp của VN (VSIC, 2007): ngành CNSXSPĐT là một ngành công nghiệp SX chế biến thuộc nhóm C.

Kết hợp với các khái niệm ở mục 1.2a,b: Ngành CNSXSPĐT là phân ngành của ngành CNĐT, chuyên SX các SPĐT cho các ngành công nghiệp khác và SPĐT tiêu dùng. Tại Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg, ngày 06.2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Hệ thống ngành kinh tế VN, gồm có 05 cấp ngành [26], các ngành công nghiệp chế biến thuộc nhóm C, CNSXSPĐT thuộc C26. b, Ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử hướng về xuất khẩu. Qua các khái niệm trên có thể khái niệm ngành CNSXSPĐT hướng về XK là một phân ngành của ngành CNĐT, tập trung vào SX, chế biến các SPĐT phục vụ tiêu dùng và các ngành công nghiệp khác (thuộc nhóm C - C26); SPĐT được SX ra chủ yếu XK ra nước ngoài.

Như vậy, xét về quy mô, ngành CNĐT có quy mô rộng hơn bao gồm: chế tạo (cả công nghệ, sản phẩm, SX và KD (cả nội địa và XK), trong khi ngành CNSXSPĐT chỉ tập trung khâu SX là chủ yếu; xét về sản phẩm, ngành CNSXSPĐT hướng về XK chỉ tập trung vào các SPĐT nhóm C (chủ yếu C26: SX SPĐT, máy tính và sản phẩm quang học); xét về phạm vi thị trường, SP của ngành chủ yếu là XK ra nước ngoài.4 Đặc điểm của ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử hướng về xuất khẩu a, Ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử hướng về xuất khẩu là một lĩnh vực công nghiệp trọng tâm của cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Ở thế kỷ XXI, thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng lần thứ 4. Trong cuộc cách mạng này, công cụ sử dụng chủ yếu là các thiết bị điện tử thông minh, vì vậy ngành CNSXSPĐT hướng về XK được xem là ngành công nghiệp mũi nhọn của nhiều nước. Theo đánh giá hàng năm của World Bank về 20 nhóm ngành công nghiệp trên thế giới thì ngành CNSXSPĐT hướng về XK luôn đứng ở vị trí cao về kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK), thu hút nhiều lao động.

Qua đó, các quốc gia, các địa phương có điều kiện và cơ hội cần có những chiến lược ưu tiên để có được nền công nghiệp tiên tiến này. b, Ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử hướng về xuất khẩu là ngành công nghiệp có trình độ phát triển rất nhanh thúc đẩy các ngành công nghiệp khác phát triển. Theo báo cáo thống kê của tổ chức Statista Johannes-Brahms (Hamburg, 2016,2018) [161] thống kê ngành này trên toàn cầu từ năm 2016 đến: tốc độ tăng trưởng bình quân ngành của thế giới năm 2010-2017 là từ 2%-4%, khu vực Châu Á giữ tốc nhanh nhất: bình quân từ 3,5-5,2% (2010-2018). Các thành phần chính trong các thiết bị của các ngành công nghiệp khác nhau đều chứa các SPĐT, nhiều lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng về vật lý lượng tử, y học, quan học, thiên văn học, vũ trụ, quân sự v.

Đặc điểm này cho thấy, đây là ngành tạo động lực phát triển cho các ngành 13 công nghiệp khác, các quốc gia quan tâm phát triển ngành CNSXSPĐT hướng về XK là sự lựa chọn đúng đắn cho chiến lược CNH, hiện đại hóa đất nước mình. c, Ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử hướng về xuất khẩu là ngành công nghiệp sản xuất tập trung trong mối quan hệ mật thiết với ngành công nghiệp hỗ trợ. SX SPĐT đòi hỏi phải tập trung thành cụm ngành, khu công nghiệp (KCN) để hợp lý hóa quá trình nghiên cứu chế tạo (một số công ty, tập đoàn điện tử tại một số nước tổ chức các Cụm CN, thung lũng Silicon, vườn ươm.) cung ứng nguyên vật liệu, SX, lắp ráp, phối hợp giữa các đơn vị SX với các đơn vị CNHT, phối hợp các vùng công nghiệp nhằm tối thiểu hóa chi phí, giảm các chi phí trung gian như tồn kho, vận chuyển. tạo thành mỗi chuỗi giá trị SX của ngành.

Một SPĐT có kết cấu rất phức tạp đòi hỏi phải có sự hỗ trợ, liên kết của nhiều công đoạn SX như: tổng hợp vật liệu, tạo khuôn, đúc, mạ, tiện, rèn, hàn, nguội, dập, in, khắc, riêng một DN, một địa phương không thể thực hiện từ đầu đến cuối. d, Ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm điện tử hướng về xuất khẩu là ngành sử dụng vốn lớn. Để có những SPĐT có tính cạnh tranh cao, việc đầu tư cho nghiên cứu, thiết kế, chế tạo (R&D), SX hàng loạt đòi hỏi đầu tư vốn lớn cho các nguồn lực về con người, máy móc thiết bị và tổ chức XK sản phẩm trên thị trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát triển ngành công nghiệp điện tử xuất khẩu tại Đà Nẵng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của ngành công nghiệp điện tử tại thành phố Đà Nẵng, nhấn mạnh các cơ hội và thách thức trong việc mở rộng xuất khẩu. Tài liệu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức mà Đà Nẵng có thể tận dụng lợi thế địa lý và nguồn nhân lực để phát triển bền vững trong lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các khía cạnh liên quan đến xuất khẩu và quản lý trong ngành công nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ giải pháp xuất khẩu điện sinh khối cho thị trường campuchia, nơi cung cấp cái nhìn về xuất khẩu năng lượng tái tạo. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao hoạt động hỗ trợ xuất khẩu của công ty dịch vụ trong ngành đồ gỗ tại bình dương sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chiến lược hỗ trợ xuất khẩu trong ngành công nghiệp. Cuối cùng, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp vận dụng các qui định pháp lý của liên minh châu âu eu về chất lượng và nhãn hiệu hàng hoá nhằm tăng cường xuất khẩu việt nam vào thị trường nà sẽ cung cấp thông tin về các quy định chất lượng và nhãn hiệu hàng hóa, rất quan trọng cho việc xuất khẩu thành công. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về ngành xuất khẩu và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nó.