Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (2021-2022) - Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng

Khám phá chi tiết giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam năm học 2021-2022. Tìm hiểu nội dung cốt lõi và phương pháp giảng dạy cập nhật.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2021

220
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 2021-2022 là tài liệu học tập quan trọng dành cho sinh viên các trường đại học trên toàn quốc. Giáo trình được biên soạn dựa trên nền tảng khoa học lịch sử, kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu trước đó. Nội dung bám sát quan điểm của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ngày 3-2-1930. Từ thời điểm lịch sử đó, lịch sử Đảng hòa quyện cùng lịch sử dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng. Giáo trình cung cấp kiến thức toàn diện về quá trình hình thành, phát triển và lãnh đạo cách mạng của Đảng qua các thời kỳ lịch sử. Tài liệu giúp người học hiểu sâu sắc bản chất, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

1.1. Đối tượng và chức năng nghiên cứu Lịch sử Đảng

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là chuyên ngành thuộc khoa học lịch sử, nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của Đảng. Chuyên ngành này được nghiên cứu từ rất sớm, năm 1933 tác giả Hồng Thế Công đã công bố tác phẩm Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản Đông Dương. Đối tượng nghiên cứu bao gồm quá trình lãnh đạo cách mạng, các quyết định chiến lược và bài học kinh nghiệm của Đảng. Chức năng chính là tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo, làm rõ con đường và quy luật phát triển cách mạng Việt Nam. Bộ môn được giảng dạy chính thức trong các trường đại học từ những năm 60 thế kỷ XX.

1.2. Nhiệm vụ và phương pháp học tập Lịch sử Đảng

Nhiệm vụ nghiên cứu Lịch sử Đảng được Đại hội lần thứ III năm 1960明确提出, tập trung tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo và quy luật phát triển cách mạng. Phương pháp học tập kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, sử dụng phương pháp lịch sử và逻辑 học. Người học cần nắm vững các mốc lịch sử quan trọng, phân tích nguyên nhân và bài học từ từng giai đoạn. Việc nghiên cứu tài liệu gốc, văn kiện Đảng là yếu tố then chốt. Năm 1962, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương được thành lập, nay là Viện Lịch sử Đảng, đảm bảo tính khoa học và chính xác của nội dung giảng dạy.

II. Quá trình thành lập Đảng và các tổ chức cộng sản

Giai đoạn 1925-1930 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên được thành lập, tổ chức đào tạo cán bộ và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin. Những hoạt động tích cực của các cấp bộ đã thúc đẩy phong trào yêu nước theo khuynh hướng cách mạng vô sản. Đấu tranh của thợ thuyền khắp ba kỳ ngày càng lớn mạnh, số cuộc đấu tranh năm 1928-1929 tăng gấp 2,5 lần so với hai năm trước. Tháng 3-1929, Chi bộ Cộng sản đầu tiên được thành lập tại Hà Nội do Trần Văn Cung, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh lãnh đạo. Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời tại số nhà 312 phố Khâm Thiên. Tháng 11-1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập tại Khánh Hội, Sài Gòn. Trước tình hình ba tổ chức cộng sản hoạt động riêng biệt, Nguyễn Ái Quốc chủ trương thống nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930.

2.1. Sự ra đời của các tổ chức cộng sản tiền thân

Tháng 3-1929, những người cộng sản ưu tú ở Bắc Kỳ họp tại số nhà 5D phố Hàm Long, Hà Nội, quyết định lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên. Đây là bước ngoặt lịch sử, đánh dấu sự ra đời của tổ chức cộng sản trên lãnh thổ Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng thành lập ngày 17-6-1929, lấy cờ đỏ búa liềm làm Đảng kỳ, xuất bản báo Búa liềm. Tại Nam Kỳ, An Nam Cộng sản Đảng ra đời tháng 11-1929, công bố Điều lệ và xuất bản Tạp chí Bônsơvích. Tại Trung Kỳ, Tân Việt Cách mạng Đảng cũng chuyển dần theo hướng cộng sản hóa.

2.2. Sự thống nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Trước thực tế ba tổ chức cộng sản hoạt động phân tán, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy cần thống nhất lực lượng. Hội nghị hợp nhất Đảng Cộng sản được triệu tập tại Hương Cảng, Trung Quốc tháng 1-1930. Ba tổ chức cộng sản Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp. Sự kiện ngày 3-2-1930 mở ra kỷ nguyên mới cho cách mạng Việt Nam.

III. Phân tích nội dung giáo trình qua các thời kỳ lịch sử

Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 2021-2022 trình bày hệ thống nội dung qua các thời kỳ lịch sử trọng yếu. Thời kỳ 1930-1945 ghi nhận quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Chỉ thị ngày 12-3-1945 của Đảng thể hiện sự lãnh đạo kiên quyết, kịp thời, là kim chỉ nam cho cao trào chống Nhật cứu nước. Cao trào kháng Nhật cứu nước từ giữa tháng 3-1945 diễn ra sôi nổi với chiến tranh du kích cục bộ và khởi nghĩa từng phần. Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân phối hợp với lực lượng chính trị giải phóng nhiều tỉnh thuộc vùng thượng du và trung du Bắc Kỳ. Khởi nghĩa Ba Tơ thắng lợi, đội du kích được thành lập. Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị tổ chức Ủy ban giải phóng Việt Nam. Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ ngày 15-5-1945 chủ trương thống nhất lực lượng vũ trang, chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

3.1. Giai đoạn lãnh đạo kháng Nhật cứu nước 1945

Tháng 3-1945, Đảng ban hành chỉ thị thay đổi chiến thuật cách mạng, chuyển khẩu hiệu từ đánh đuổi phát xít Nhật-Pháp sang đánh đuổi phát xít Nhật. Đảng nêu khẩu hiệu thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương. Chỉ thị quyết định phát động cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa. Từ giữa tháng 3-1945, khởi nghĩa nổ ra ở nhiều tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang. Chiến thắng của các cuộc khởi nghĩa từng phần tạo điều kiện cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công.

3.2. Bài học kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo cách mạng

Quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng rút ra nhiều bài học quý giá. Thứ nhất, sự lãnh đạo tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương là yếu tố quyết định thắng lợi. Thứ hai, Đảng biết nắm bắt thời cơ, chuyển hướng chiến thuật kịp thời phù hợp tình hình thực tế. Thứ ba, việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng gắn với đấu tranh chính trị tạo sức mạnh tổng hợp. Thứ tư, đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố cơ bản thắng lợi. Những bài học này được giáo trình phân tích sâu sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn cao.

IV. Ứng dụng và giá trị của giáo trình trong đào tạo

Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 2021-2022 có giá trị ứng dụng rộng rãi trong công tác đào tạo và nghiên cứu. Tài liệu được sử dụng chính thức trong chương trình giảng dạy các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp toàn quốc. Giáo trình giúp sinh viên hệ thống kiến thức về quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, từ đó nâng cao nhận thức chính trị và bản lĩnh cách mạng. Nội dung giáo trình phù hợp yêu cầu đổi mới giáo dục, kết hợp giữa lý luận Mác-Lênin và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Việc nghiên cứu giáo trình trang bị cho người học phương pháp tư duy lịch sử, khả năng phân tích đánh giá sự kiện. Giáo trình cũng là tài liệu tham khảo quan trọng cho nghiên cứu sinh, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu lịch sử Đảng. Giá trị của giáo trình nằm ở tính khoa học, hệ thống và cập nhật phù hợp yêu cầu đào tạo hiện đại.

4.1. Vai trò giáo trình trong đào tạo cán bộ nguồn

Giáo trình đóng vai trò quan trọng trong đào tạo cán bộ nguồn cho Đảng và Nhà nước. Sinh viên các trường đại học sử dụng giáo trình để học tập, nghiên cứu lịch sử Đảng một cách hệ thống. Nội dung giáo trình giúp hình thành thế giới quan cách mạng, nâng cao ý thức giác ngộ giai cấp cho sinh viên. Việc giảng dạy Lịch sử Đảng được xác định là môn học bắt buộc, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có bản lĩnh chính trị vững vàng. Giáo trình cung cấp kiến thức nền tảng để cán bộ trẻ hiểu sâu sắc truyền thống cách mạng, từ đó vận dụng vào thực tiễn công tác.

4.2. Giá trị tham khảo cho nghiên cứu học thuật

Giáo trình là tài liệu tham khảo có giá trị cho nghiên cứu học thuật về lịch sử Đảng. Các nhà nghiên cứu sử dụng giáo trình làm cơ sở để đào sâu phân tích các giai đoạn lịch sử, sự kiện và nhân vật. Nội dung giáo trình được biên soạn dựa trên văn kiện Đảng, tài liệu gốc đảm bảo tính chính xác khoa học. Viện Lịch sử Đảng và các cơ quan nghiên cứu sử dụng giáo trình trong đào tạo cán bộ chuyên trách. Giá trị học thuật của giáo trình thể hiện ở việc tổng hợp, hệ thống hóa tri thức lịch sử Đảng một cách toàn diện, logic và khoa học.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Giao trinh lich su dang day la giao trinh lich su dang cong san viet nam nam 2021 2022

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 - 1945) MỤC TIÊU Về kiến thức: Cung cấp cho sinh viên những tri thức có tính hệ thống quá trình ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (1920-1930), nội dung cơ bản, giá trị lịch sử của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và quá trình Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền (1930-1945). Về tư tưởng: Cung cấp cơ sở lịch sử, góp phần củng cố niềm tin của thế hệ trẻ vào con đường cách mạng giải phóng dân tộc và phát triển đất nước-sự lựa chọn đúng đắn, tất yếu, khách quan của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đầu dựng Đảng. Về kỹ năng: Từ việc nhận thức lịch sử thời kỳ đầu dựng Đảng, góp phần trang bị cho sinh viên phương pháp nhận thức biện chứng, khách quan về quá trình Đảng ra đời và vai trò lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xác lập chính quyền cách mạng. Đảng Cô ̣ng sản Viêṭ Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tháng 2- 1930 1.

Bối cảnh lịch sử Từ nửa sau thế kỷ XIX, các nước tư bản Âu-Mỹ có những chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống kinh tế-xã hội. Chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa), đẩy mạnh quá trình xâm chiếm và nô dịch các nước nhỏ, yếu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ-Latinh, biến các quốc gia này thành thuộc địa của các nước đế quốc. Trước bối cảnh đó, nhân dân các dân tộc bị áp bức đã đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách thực dân, đế quốc, tạo thành phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ, rộng khắp, nhất là ở châu Á. Cùng với phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản ở các nước tư bản chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trở thành một bộ phận quan trọng trong cuộc đấu tranh chung chống tư bản, thực dân.

Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á đầu thế kỷ XX phát triển rộng khắp, tác động mạnh mẽ đến phong trào 14 Downloaded by V? Gia H?ng Photo Quang Tu?n (vtvu19@gmail.com) lOMoARcPSD|13895877 yêu nước Việt Nam. Trong bối cảnh đó, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã làm biến đổi sâu sắc tình hình thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đối với các nước tư bản, mà còn có tác động sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản, do V.Lênin đứng đầu, được thành lập, trở thành bộ tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản thế giới.

Quốc tế Cộng sản không những vạch đường hướng chiến lược cho cách mạng vô sản mà cả đối với các vấn đề dân tộc và thuộc địa, giúp đỡ, chỉ đạo phong trào giải phóng dân tộc. Cùng với việc nghiên cứu và hoàn thiện chiến lược và sách lược về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Quốc tế Cộng sản đã tiến hành hoạt động truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản và thúc đẩy phong trào đấu tranh ở khu vực này đi theo khuynh hướng vô sản. Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920) đã thông qua luận cương về dân tộc và thuộc địa do V.Lênin khởi xướng. Cách mạng Tháng Mười và những hoạt động cách mạng của Quốc tế Cộng sản đã ảnh hưởng mạnh mẽ và thức tỉnh phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam và Đông Dương.

Tình hình Việt Nam và các phong trào yêu nước trước khi có Đảng Là quốc gia Đông Nam Á nằm ở vị trị địa chính trị quan trọng của châu Á, Việt Nam trở thành đối tượng nằm trong mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp trong cuộc chạy đua với nhiều đế quốc khác. Sau một quá trình điều tra thám sát lâu dài, thâm nhập kiên trì của các giáo sĩ và thương nhân Pháp, ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng và từ đó từng bước thôn tính Việt Nam. Đó là thời điểm chế độ phong kiến Việt Nam (dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn) đã lâm vào giai đoạn khủng khoảng trầm trọng. Trước hành động xâm lược của Pháp, Triều đình nhà Nguyễn từng bước thỏa hiệp (Hiệp ước 1862, 1874, 1883) và đến ngày 6-6-1884 với Hiệp ước Patơnốt (Patenotre) đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, Việt Nam trở thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”1.

Tuy triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp, nhưng nhân dân Việt Nam vẫn không chịu khuất phục, thực dân Pháp dùng vũ lực để bình định, đàn áp sự nổi dậy của nhân dân. Đồng thời với việc dùng vũ lực đàn áp đẫm máu đối với các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa, bên cạnh đó vẫn duy trì chính quyền phong kiến bản xứ làm tay sai. Pháp thực hiện chính sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng quốc gia dân tộc: chia ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với các chế độ chính trị khác nhau nằm trong Liên 1 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nô ̣i, 2011, tâ ̣p 12, trang 401. 15 Downloaded by V? Gia H?ng Photo Quang Tu?n (vtvu19@gmail.com) lOMoARcPSD|13895877 bang Đông Dương thuộc Pháp (Union Indochinoise)1 được thành lập ngày 17-10-1887 theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp.

Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa lớn: Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) do toàn quyền Đông Dương Paul Dou mer (Pôn du me ) thực hiện và khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929). Mưu đồ của thực dân Pháp nhằm biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc”, đồng thời ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề. Chế độ cai trị, bóc lột hà khắc của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam là “chế độ độc tài chuyên chế nhất, nó vô cùng khả ố và khủng khiếp hơn cả chế độ chuyên chế của nhà nước quân chủ châu Á đời xưa” 2. Năm 1862, Pháp đã lập nhà tù ở Côn Đảo để giam cầm những người Việt Nam yêu nước chống Pháp.

Về văn hoá-xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ cai trị, lập nhà tù nhiều hơn trường học, đồng thời du nhập những giá trị phản văn hoá, duy trì tệ nạn xã hội vốn có của chế độ phong kiến và tạo nên nhiều tệ nạn xã hội mới, dùng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc các thế hệ người Việt Nam, ra sức tuyên truyền tư tưởng “khai hoá văn minh” của nước “Đại Pháp”… Chế độ áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa của thực dân Pháp đã làm biến đổi tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam. Các giai cấp cũ phân hóa, giai cấp, tầng lớp mới xuất hiện với địa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái độ chính trị khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc. Dưới chế độ phong kiến, giai cấp địa chủ và nông dân là hai giai cấp cơ bản trong xã hội, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hóa. Một bộ phận địa chủ câu kết với thực dân Pháp và làm tay sai đắc lực cho Pháp trong việc ra sức đàn áp phong trào yêu nước và bóc lột nông dân; Một bộ phận khác nêu cao tinh thần dân tộc khởi xướng và lãnh đạo các phong trào chống Pháp và bảo vệ chế độ phong kiến, tiêu biểu là phong trào Cần Vương; Một số trở thành lãnh đạo phong trào nông dân chống thực dân Pháp và phong kiến phản động; Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản.

Giai cấp nông dân chiếm số lượng đông đảo nhất (khoảng hơn 90% dân số), đồng thời là một giai cấp bị phong kiến, thực dân bóc lột nặng nề nhất. Do vậy, ngoài mâu thuẫn giai cấp vốn có với giai cấp địa chủ, từ khi thực dân Pháp xâm lược, giai cấp nông dân còn có mâu thuẫn sâu sắc với thực dân xâm lược. “Tinh thần cách mạng của nông dân 1 Bao gồm: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên, Ai Lao. 2 Phan Văn Trường: Bài đăng trên tờ La Cloche Félée, số 36, ngày 21-1-1926.

16 Downloaded by V? Gia H?ng Photo Quang Tu?n (vtvu19@gmail.com) lOMoARcPSD|13895877 không chỉ gắn liền với ruộng đất, với đời sống hằng ngày của họ, mà còn gắn bó một cách sâu sắc với tình cảm quê hương đất nước, với nền văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc” 1. Đây là lực lượng hùng hậu, có tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất cho nền độc lập tự do của dân tộc và khao khát giành lại ruộng đất cho dân cày, khi có lực lượng tiên phong lãnh đạo, giai cấp nông dân sẵn sàng vùng dậy làm cách mạng lật đổ thực dân phong kiến. Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành gắn với các cuộc khai thác thuộc địa, với việc thực dân Pháp thiết lập các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng, khu đồn điền. Ngoài những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng vì ra đời trong hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến, chủ yếu xuất thân từ nông dân, cơ cấu chủ yếu là công nhân khai thác mỏ, đồn điền, lực lượng còn nhỏ bé2, nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởng tiên tiến của thời đại, nhanh chóng phát triển từ “tự phát” đến “tự giác”, thể hiện là giai cấp có năng lực lãnh đạo cách mạng.

Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện muộn hơn giai cấp công nhân. Một bộ phận gắn liền lợi ích với tư bản Pháp, tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế của chính quyền thực dân Pháp, trở thành tầng lớp tư sản mại bản. Một bộ phận là giai cấp tư sản dân tộc, họ bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm, bị lệ thuộc, yếu ớt về kinh tế. Vì vậy, phần lớn tư sản dân tộc Việt Nam có tinh thần dân tộc, yêu nước nhưng không có khả năng tập hợp các giai tầng để tiến hành cách mạng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ