Luận văn: Thanh Hóa xây dựng hậu phương chống thực dân Pháp (1945 - 1954)

Dưới đây là kết quả tạo meta tags cho bài viết: { "ai_description": "Tìm hiểu luận văn thạc sĩ về lãnh đạo xây dựng hậu phương chi viện cho tiền tuyến trong

Trường đại học

Học viện Chính trị

Tác giả

Phạm Thị Nhung

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

110
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đảng bộ Thanh Hóa xây dựng hậu phương

Thanh Hóa giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Vùng đất này nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ. Nơi đây có địa hình hiểm trở, rừng núi bạt ngàn và đồng bằng màu mỡ. Dân số đông đúc tạo nên nguồn nhân lực dồi dào. Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xác định Thanh Hóa là hậu phương chiến lược của Liên khu IV và cả nước. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa nhanh chóng tiếp thu chủ trương kháng chiến kiến quốc. Tổ chức Đảng địa phương đã vận dụng sáng tạo đường lối của Trung ương vào hoàn cảnh thực tế. Công tác lãnh đạo tập trung vào việc xây dựng thực lực toàn diện. Hậu phương Thanh Hóa không chỉ là nơi cung cấp sức người và lương thực cho tiền tuyến. Nơi đây còn là bàn đạp tiến công vững chắc của các chiến dịch lớn. Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo nhân dân giữ vững chính quyền dân chủ nhân dân non trẻ. Mọi nguồn lực xã hội được huy động phục vụ mục tiêu kháng chiến thắng lợi. Quá trình chỉ đạo diễn ra liên tục từ năm 1945 đến năm 1954. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ tỉnh đã biến tiềm năng địa phương thành sức mạnh vật chất to lớn.

1.1. Vị trí địa lý và vai trò chiến lược của Thanh Hóa

Thanh Hóa là cửa ngõ nối liền hậu phương miền Bắc với chiến trường Trung Bộ và Thượng Lào. Vị trí địa lý đặc thù cho phép vận chuyển vũ khí, lương thực an toàn đến các mặt trận trọng điểm. Tỉnh sở hữu vùng tự do rộng lớn, tránh được sự chiếm đóng trực tiếp của quân đội Pháp. Hệ thống sông ngòi và đường núi hiểm trở tạo điều kiện thuận lợi cho mạng lưới giao thông kháng chiến. Nguồn tài nguyên nông nghiệp phong phú giúp duy trì khả năng tự cấp tự túc lương thực dài ngày. Dân cư tập trung đông đúc cung cấp nguồn bổ sung lực lượng quân đội thường xuyên. Đảng bộ tỉnh đã nhận thức rõ các lợi thế tự nhiên và tiềm năng con người để xây dựng căn cứ hậu cần vững chắc.

1.2. Chủ trương xây dựng căn cứ hậu phương qua từng giai đoạn

Giai đoạn 1945-1950, Đảng bộ tỉnh tập trung củng cố chính quyền non trẻ và chuẩn bị lực lượng. Tỉnh ủy chỉ đạo khôi phục sản xuất, diệt giặc dốt và củng cố khối đoàn kết toàn dân. Từ năm 1951 đến năm 1954, nhiệm vụ trọng tâm chuyển sang đẩy mạnh chi viện cho các chiến dịch phản công lớn. Chủ trương của Đảng bộ luôn bám sát sự chỉ đạo của Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh cụ thể hóa mục tiêu vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Kế hoạch huy động nguồn lực được điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến chiến trường.

II. Phân tích khó khăn của Đảng bộ Thanh Hóa xây dựng hậu phương

Quá trình xây dựng hậu phương của Đảng bộ Thanh Hóa đối mặt với muôn vàn khó khăn gay gắt. Cơ sở vật chất ban đầu vô cùng nghèo nàn và lạc hậu. Nạn đói năm 1945 để lại hậu quả nặng nề cho đời sống nhân dân. Tỷ lệ người dân mù chữ chiếm đa số. Đội ngũ cán bộ cơ sở thiếu kinh nghiệm quản lý kinh tế và hành chính. Thù trong giặc ngoài liên tục tìm cách phá hoại khối đoàn kết dân tộc. Thực dân Pháp tăng cường các hoạt động do thám, ném bom và phong tỏa kinh tế. Tại khu vực miền núi, bọn phản động kích động bạo loạn gây mất ổn định an ninh trật tự. Nhiều toán thổ phỉ và biệt kích nhảy dù xuống miền Tây nhằm cắt đứt tuyến liên lạc. Thiên tai, hạn hán và lũ lụt thường xuyên đe dọa mùa màng nông nghiệp. Sản xuất thủ công nghiệp chưa phát triển để tự cung tự cấp vũ khí. Việc phân phối hàng hóa và thu thuế gặp nhiều trở ngại do thiếu tiền tệ thống nhất. Đảng bộ tỉnh phải giải quyết đồng thời bài toán bảo vệ an ninh nội bộ và huy động tối đa của cải cho tiền tuyến.

2.1. Thách thức về kinh tế văn hóa và đời sống xã hội

Nền kinh tế Thanh Hóa sau Cách mạng Tháng Tám rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Ruộng đất bị bỏ hoang, đê điều xuống cấp nặng nề sau các trận lũ lớn. Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết. Nạn đói đe dọa trực tiếp sự tồn vong của chính quyền non trẻ. Đa số người dân không biết chữ, gây khó khăn cho công tác tuyên truyền chủ trương kháng chiến. Hủ tục lạc hậu và tệ nạn xã hội từ thời phong kiến còn tồn tại dai dẳng. Ngân sách địa phương eo hẹp không đủ chi trả cho các hoạt động hành chính và quân sự ban đầu.

2.2. Âm mưu phá hoại của thực dân Pháp và phản động nội địa

Thực dân Pháp nhận rõ vị trí của hậu phương Thanh Hóa nên liên tục tổ chức đánh phá. Máy bay địch thường xuyên ném bom vào các đầu mối giao thông, đê điều và kho tàng. Chúng phong tỏa bờ biển nhằm ngăn chặn đường tiếp tế bằng đường thủy của ta. Ở miền Tây, Pháp cấu kết với bọn thổ ty phản động lập các toán phỉ vũ trang. Bọn chúng kích động gây bạo loạn tại các xã Ban Công, Quốc Thành, Cổ Lũng thuộc huyện Bá Thước. Tình hình an ninh trật tự ở vùng cao diễn biến phức tạp, đe dọa sự an toàn của căn cứ hậu phương.

III. Giải pháp của Đảng bộ Thanh Hóa xây dựng hậu phương vững mạnh

Để vượt qua thử thách, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp sáng tạo và quyết liệt. Công tác xây dựng Đảng được đặt lên vị trí then chốt. Các cấp ủy đẩy mạnh phong trào xây dựng chi bộ tự động, chi bộ tiến bộ và chi bộ gương mẫu. Đảng bộ kiên quyết đưa ra khỏi tổ chức những phần tử thoái hóa, biến chất. Về kinh tế, tỉnh phát động phong trào tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Nhân dân tích cực khai hoang, đắp đê ngăn mặn và áp dụng kỹ thuật canh tác mới. Công tác thuế nông nghiệp và phát hành công trái kháng chiến được thực hiện hiệu quả. Về quân sự, Tỉnh ủy chỉ đạo thành lập lực lượng dân quân du kích rộng khắp. Các đại đội bộ đội địa phương 128, 136, 185 phối hợp chặt chẽ với công an tiểu phỉ trừ gian. Phong trào Bình dân học vụ xóa nạn mù chữ phát triển mạnh mẽ. Khối đại đoàn kết toàn dân được mở rộng qua Mặt trận Liên Việt.

3.1. Củng cố hệ thống chính trị và chỉnh đốn tổ chức Đảng

Tỉnh ủy Thanh Hóa tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng. Phong trào xây dựng chi bộ tự động đạt tỷ lệ trên 53% tổng số chi bộ toàn tỉnh vào năm 1950. Tiêu biểu là chi bộ Tượng Lĩnh được công nhận là chi bộ gương mẫu đầu tiên. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị được đẩy mạnh để đáp ứng yêu cầu kháng chiến. Các đoàn thể như Nông hội, Công hội, Phụ nữ và Thanh niên cứu quốc thu hút đông đảo hội viên. Khối liên minh công nông trở thành nền tảng chính trị vững chắc cho chính quyền dân chủ nhân dân.

3.2. Phát triển kinh tế nông nghiệp và tiễu phỉ bảo vệ trật tự

Đảng bộ tỉnh chỉ đạo đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất nông nghiệp với khẩu hiệu không một tấc đất bỏ hoang. Hàng vạn tấn lương thực được tích trữ để vừa nuôi quân vừa bảo đảm đời sống nhân dân. Quân dân Thanh Hóa tích cực đóng góp công trái quốc gia và quỹ nuôi quân. Trên mặt trận an ninh, lực lượng vũ trang tỉnh mở hai đợt tiễu phỉ lớn ở miền Tây vào năm 1952 và 1953. Tỉnh ủy kết hợp tác chiến quân sự với công tác dân vận, kêu gọi những người lầm đường trở về. Miền Tây được giữ vững an toàn tuyệt đối.

IV. Ý nghĩa và bài học Đảng bộ Thanh Hóa xây dựng hậu phương lớn

Thắng lợi trong xây dựng hậu phương tại Thanh Hóa khẳng định sự lãnh đạo tài tình của Đảng bộ địa phương. Thanh Hóa đã trở thành điểm tựa hậu cần vững chắc nhất cho chiến trường Bắc Bộ và Trung Bộ. Tỉnh đã huy động hàng chục vạn lượt dân công, hàng triệu ngày công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Lương thực, thực phẩm từ Thanh Hóa đóng góp phần lớn vào tổng số vật tư tiếp tế cho mặt trận. Thành công này để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Bài học hàng đầu là phải luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Bài học thứ hai là phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài học thứ ba là kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng an ninh. Những kinh nghiệm lịch sử này tiếp tục soi sáng công cuộc xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh vững chắc trong thời kỳ mới.

4.1. Đóng góp to lớn cho chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, hậu phương Thanh Hóa đã phát huy cao nhất vai trò hậu cần chiến lược. Tỉnh đã huy động hơn 178.000 lượt dân công với hàng triệu ngày công phục vụ chiến đấu. Đoàn xe thồ Thanh Hóa trở thành biểu tượng huyền thoại của ý chí vượt núi băng rừng. Hàng vạn tấn gạo, ngô, thịt và rau xanh được chuyển ra mặt trận an toàn, kịp thời. Sự đóng góp to lớn về sức người và của cải của quân dân Thanh Hóa trực tiếp bảo đảm thắng lợi lẫy lừng năm châu, chấn động địa cầu.

4.2. Vận dụng bài học lịch sử vào xây dựng khu vực phòng thủ

Kinh nghiệm xây dựng hậu phương kháng chiến của Đảng bộ Thanh Hóa vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Việc xây dựng thế trận lòng dân luôn là yếu tố quyết định thành bại của mọi nhiệm vụ. Tỉnh ủy ngày nay tiếp tục vận dụng bài học này vào củng cố khu vực phòng thủ địa phương vững mạnh. Sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với nâng cao tiềm lực quốc phòng được ưu tiên hàng đầu. Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng cơ sở là chìa khóa xây dựng quê hương giàu đẹp và an toàn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026
Luận văn thạc sĩ lịch sử đảng đảng bộ tỉnh thanh hoá lãnh đạo xây dựng hậu phương chi viện cho tiền tuyến trong kháng chiến chống thực dân pháp 1945 1954

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HOÁ LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG CHI VIỆN CHO TIỀN TUYẾN TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 - 1950) 1. Yêu cầu khách quan xây dựng hậu phương Thanh Hoá trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1. Vị trí chiến lược và điều kiện tự nhiên - xã hội của tỉnh Thanh Hoá trong kháng chiến chống thực dân Pháp Nằm ở địa đầu miền Trung, Thanh Hoá là cầu nối giữa đồng bằng Bắc Bộ rộng lớn với dải đồng bằng nhỏ hẹp miền Trung và được bao bọc bởi núi rừng trùng điệp: phía Bắc giáp các tỉnh Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (Lào) với đường biên giới dài 195 km; phía Nam giáp tỉnh Nghệ An và phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ với đường biển dài 102 km. Phần đất liền của tỉnh Thanh Hoá chạy dài theo chiều từ Tây Bắc xuống Đông Nam: điểm cực Bắc nằm ở vĩ tuyến 20040’B thuộc xã Trung Sơn, huyện Quan Hoá (giáp tỉnh Hoà Bình); điểm cực Nam nằm ở vĩ tuyến 19 018’B thuộc xã Hải Hà huyện Tĩnh Gia (giáp tỉnh Nghệ An); điểm cực Tây nằm ở Kinh tuyến 104022’Đ thuộc xã Quang Chiểu huyện Mường Lát (giáp nước Công hoà dân chủ nhân dân Lào); điểm cực Đông nằm ở Kinh tuyến 106 005’Đ thuộc xã Nga Điền, huyện Nga Sơn (giáp tỉnh Ninh Bình).

Với vị trí này, Thanh Hoá có đầy đủ điều kiện trở thành hậu phương, cầu nối giữa hậu phương Liên khu IV với các tỉnh phía Bắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 11.13800km 2, với ba vùng: miền núi - trung du, đồng bằng và miền biển tạo nên thế mạnh phát triển nền kinh tế tổng hợp: nông - lâm - ngư nghiệp tự cấp, tự túc - yếu tố cơ bản trong xây dựng căn cứ địa, hậu phương chống giặc ngoại xâm suốt chiều dài lịch sử. Vùng núi Thanh Hoá chiếm ¾ đất tự nhiên: phía Đông là biển Đông, còn ba mặt: Bắc - Tây - Nam núi rừng trùng điệp, hiểm trở. Núi non ở Thanh Hoá 12 mang nét đặc trưng của Tây Bắc bởi những dải núi đá vôi xen kẽ đá phiến.

Phía Nam sông Mã và phía Tây dọc biên giới Việt - Lào hiểm trở hơn với nhiều đỉnh núi cao sừng sững như ngọn Phù Chó (Thường Xuân) cao 1.563m, ngọn Pù Rinh (thuộc hai huyện Lang Chánh, Thường Xuân, cao 1. Nơi đây thế kỷ XV là căn cứ địa của nghĩa quân Lam Sơn trong những ngày đầu chống giặc Minh. Cũng từ nơi đây, Lê Lợi đã lãnh đạo nghĩa quân tiến xuống đồng bằng, tiến vào Nghệ An, tấn công ra Bắc, quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vùng núi Thanh Hoá trở thành vị trí chiến lược, con đường giao thông huyết mạch đưa nhân tài và vật lực ra tiền tuyến.

Đồng bằng Thanh Hoá so với các tỉnh miền Trung, màu mỡ, rộng lớn hơn (chiếm gần một nửa đồng bằng Thanh - Nghệ - Tĩnh) 1, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thâm canh cây lúa nước và các loại hoa màu, phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp. Vùng biển với nhiều cửa lạch lớn: Lạch Sung, Lạch Trường, Lạch Ghép, Lạch Bạng cùng các đảo: đảo Nẹ, đảo Mê và các bán đảo Hà Sơn, Trường Lệ, Nghi Sơn… tạo nên vị trí tiền tiêu, phòng tuyến quân sự. Thế kỷ XVIII, quân đội Tây Sơn đã dựa vào núi rừng, biển cả xứ Thanh lập nên phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn, phòng thủ và tiến công ra Bắc tiêu diệt 29 vạn quân Thanh xâm lược. Thanh Hoá có hệ thống sông lớn, bao gồm 5 hệ thống sông chính là: sông Mã - sông Chu, sông Yên, sông Bạng, sông Hoạt, sông Chàng.

Ngoài ra còn có nhiều con sông nhỏ khác như: sông Cổ Tế, sông Lèn, sông Tống, sông Kênh Than. Hệ thống sông ngòi này từ xa xưa đã có vai trò to lớn trong giao thông vận tải, thuỷ lợi và ngăn bước quân thù. Giao thông đường thuỷ trở thành nét đặc trưng trong quá trình vận chuyển lương thực, thực phẩm của nhân dân Thanh Hoá trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Dân cư đông đúc, bên cạnh người Kinh còn có các dân tộc anh em: Mường, Thái, H’Mông, Dao, Khơ Mú, Thổ, Tày, Hoa.

Trải qua quá trình đấu tranh với 1 Đồng bằng Thanh - Nghệ - Tĩnh (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh) có diện tích 62. 13 thiên tai, địch hoạ, nhân dân Thanh Hoá sớm hình thành truyền thống yêu nước, đoàn kết, cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất, kiên cường dũng cảm trong đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, giữ gìn nền độc lập, tự chủ. Ở vào vị trí chiến lược, điều kiện tự nhiên - xã hội như trên, Thanh Hoá có đầy đủ 3 vùng: biển, đồng bằng, trung du - miền núi. Hai tuyến đường giáp Ninh Bình và Hoà Bình ở phía Bắc và Nghệ An ở phía Nam đều có các dãy núi, đồi kéo dài từ phía Tây ra tận biển tạo thành thế “tay ngai” ôm lấy đồng bằng, thuận lợi cho việc cơ động lực lượng “tiến có thế đánh, lui có thế giữ”.

Đặc biệt, sau Cách mạng Tháng Tám, Thanh Hoá vẫn là vùng tự do nên vùng đất này có đầy đủ điều kiện thuận lợi trở thành hậu phương lớn. Vì vậy, cùng với Nghệ An và Hà Tĩnh, Thanh Hoá được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm căn cứ địa, hậu phương lớn trong kháng chiến chống thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc (1945 - 1954). Truyền thống lịch sử văn hoá tỉnh Thanh Hoá Lịch sử đã chứng minh, Thanh Hoá - vùng đất địa linh nhân kiệt, không chỉ đã sản sinh ra các bậc hiền tài, đế vương mà còn giữ vị trí, vai trò chiến lược trong các cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại. Vào thế kỷ III, người con gái 19 tuổi Triệu Thị Trinh với lòng căm thù giặc sâu sắc đã cùng anh trai chiêu mộ binh sĩ, phất cờ chống giặc Ngô.

Câu nói nổi tiếng của bà Triệu: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không chịu khom lưng làm người tì thiếp” không chỉ làm lay động vị trí thống trị của quân xâm lược phương Bắc mà còn sống mãi với non sông Việt Nam. Năm 931, được sự ủng hộ của nhân dân và hào kiệt trong vùng, Dương Đình Nghệ từ quê hương Thanh Hoá kéo quân ra Bắc, bao vây và công phá thành 14 Đại La - dinh luỹ của quân xâm lược Nam Hán. Năm 980 - 981, Lê Hoàn - người con Thanh Hoá đã cầm quân đánh tan quân Tống xâm lược trên sông Bạch Đằng. Thế kỷ XV, giặc Minh xâm lược nước ta, Lê Lợi - người con Lương Giang đã dựng cờ quy tụ hiền tài, đãi ngộ tướng sĩ, phất cờ khởi nghĩa.

Được nhân dân cả nước đồng lòng hưởng ứng, từ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ở địa phương đã phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng trong cả nước, làm nên sự nghiệp Bình ngô năm 1428. Ngoài những cuộc khởi nghĩa nổ ra tại địa phương do người Thanh Hoá trực tiếp lãnh đạo, Thanh Hoá còn là hậu phương, căn cứ địa của nhiều cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm phương Bắc hết sức oanh liệt; đó là, trước sức mạnh của Mông - Nguyên, triều Trần đã lui quân về Thanh Hoá, dựa vào địa thế hiểm trở, vào kho người, kho của tại đây để cầm cự, chờ thời cơ phản công quét sạch 50 vạn quân Nguyên. Năm 1789, Nguyễn Huệ chọn địa bàn Thanh Hoá triển khai lực lượng, thần tốc tiến quân ra Bắc quét sạch 29 vạn quân Thanh. Thực dân Pháp xâm lược nước ta, hưởng ứng chiếu Cần Vương, nhân dân Thanh Hoá cùng cả nước đứng lên chống Pháp.

Các cuộc khởi nghĩa do Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước lãnh đạo đã thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân Thanh Hoá. Bên cạnh các cuộc khởi nghĩa trên, một số thanh niên yêu nước thức thời của Thanh Hoá: Lê Hữu Lập, Lê Doãn Chấp đã sớm giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường cách mạng mà Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn. Vì vậy, ngày 29 - 7 - 1930, Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hoá ra đời đã lãnh đạo nhân dân Thanh Hoá xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang, xây dựng chiến khu kháng chiến Ngọc Trạo, chiến khu Hoà - Ninh - Thanh (sau đó đổi tên thành chiến khu Quang Trung), cùng cả nước chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền. Ngày 23 - 8 - 1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi, chính quyền cách mạng về tay nhân dân, nhân dân các dân tộc Thanh Hoá đã đoàn kết cùng nhau bước vào thời kỳ mới, xây dựng và bảo vệ độc lập, tự do vừa giành được.

15 Kế thừa và phát huy truyền thống lịch sử lên tầm cao mới trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá đã nêu cao vai trò, vị trí của mình, lãnh đạo quân dân tỉnh vừa bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng hậu phương vững chắc, vừa huy động và cung cấp nhân tài vật lực cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Yêu cầu của cuộc kháng chiến và chủ trương xây dựng hậu phương của Đảng Cộng sản Việt Nam Sau Cách mạng Tháng Tám, bên cạnh những thuận lợi cơ bản để kiến thiết đất nước, nước ta đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức, tình thế cách mạng như “ngàn cân treo sợi tóc”. Chính quyền cách mạng còn non trẻ; lực lượng vũ trang ít về số lượng, hạn chế về trang bị kỹ thuật; nạn đói, nạn dốt, đặc biệt, thù trong giặc ngoài bao vây nước ta bốn hướng, hòng cướp chính quyền cách mạng còn non trẻ. Trong số kẻ thù Anh, Tưởng, Mỹ, Pháp, Việt quốc, Việt cách… nguy hiểm nhất là thực dân Pháp.

Chúng có đầy đủ cơ sở và điều kiện để trở lại xâm lược nước ta lần 2. Vì vậy, Đảng ta nhận định “nhất định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”. Tình hình trên đặt ra: để thắng thực dân Pháp có tiềm lực kinh tế và quốc phòng hùng mạnh, ngoài các nhiệm vụ cấp bách cần làm ngay: Bảo vệ và giữ vững chính quyền cách mạng. Chống thực dân Pháp xâm lược.

Bài trừ nội phản. Cải thiện đời sống nhân dân, Đảng và Chính phủ còn đặt ra yêu cầu xây dựng hậu phương, căn cứ địa cách mạng vững chắc cho cuộc kháng chiến. Yêu cầu này ngày càng trở thành đòi hỏi bức thiết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ