Chương 1: Đào tạo và nghiên cứu Lịch sử Đảng ở Đại học Tổng hợp Hà Nội từ năm 1974 đến 1995. Chương 2: Đào tạo và nghiên cứu Lịch sử Đảng ở Đại học Quốc gia Hà Nội từ năm 1996 đến 2014. Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm. 8 z Chƣơng : ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐẢNG Ở ĐẠI HỌC TỔNG HỢP HÀ NỘI (TỪ NĂM 974 ĐẾN NĂM 1995) 1.1 Đào tạo và nghiên cứu Lịch sử Đảng ở Bộ môn Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử (từ năm 974 đến năm 1985) 1.1 Quá trình hình thành Bộ môn Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử Năm 1906, Trường Đại học Đông Dương, tiền thân của ĐHQGHN ngày nay được thành lập theo Quyết định số 1514a, ngày 16/5/1906 của Toàn quyền Đông Dương.
Trường ĐH Đông Dương đặt trụ sở tại 19-Lê Thánh Tông-Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám, cơ sở này thuộc về Trường ĐHQG Việt Nam; sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc do Trường ĐHTH Hà Nội quản lý, sử dụng và nay là một trong những cơ sở chính của ĐHQGHN. Cùng thời gian đó, Trường ĐHQG Việt Nam khai giảng khoá đầu tiên vào 15/11/1945 dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực đầu tiên được thành lập dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Trường Đại học Quốc gia Việt Nam trực tiếp kế thừa truyền thống khoa học và giáo dục của Trường Đại học Đông Dương. Tiếp đó, đến năm 1951, Trường Khoa học Cơ bản (tại Chiến khu Việt Bắc) được thành lập. Đây là một trong những trường tiền thân của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội sau này. Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 2138/TC ngày 4-6-1956 của Thủ tướng Chính phủ, Giáo sư Ngụy Như Kon Tum được bổ nhiệm làm Giám đốc đầu tiên.
Ban đầu, Trường chỉ có hai ban là Ban Khoa học và Ban Văn khoa. Ban Văn khoa gồm hai bộ phận tương đối độc lập là văn và sử do GS Trần Đức Thảo phụ trách chung. Một thời gian ngắn sau đó, ngay trong năm 1956, Ban Văn khoa được chia thành hai khoa là Khoa Văn học và Khoa Lịch sử. Khoa Lịch sử chính thức ra đời từ đây, trở 9 z thành một trong bốn khoa đầu tiên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Đó là một sự kiện có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền sử học Việt Nam hiện đại. Từ đây, những tên tuổi lớn, những tác phẩm lớn, những lớp lớp cử nhân được đào tạo góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những ngày đầu mới thành lập, Khoa Lịch sử cũng như Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đứng trước muôn vàn khó khăn vất vả: cơ sở vật chất thiếu thốn, giáo trình, tài liệu tham khảo khan hiếm. Bù lại, trong những ngày đầu xây nền đắp móng này, Khoa có được một đội ngũ các nhà khoa học tài năng và vô cùng tâm huyết với sự phát triển của Khoa và của cả nền sử học nước nhà.
Đó là các giáo sư Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Trần Văn Giầu. Dưới sự dẫn dắt của các thầy, lớp cán bộ trẻ đầu tiên của Khoa đã nhanh chóng trưởng thành, từng bước đảm nhiệm việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Ngày 15-10-1956 khóa học đầu tiên của trường Đại học Tổng hợp long trọng khai giảng tại giảng đường lớn của khu Đại học Việt Nam tại số 19 đường Lê Thánh Tông, Hà Nội. Hơn 430 sinh viên từ nhiều địa phương trên mọi miền của Tổ quốc đã hân hoan tựu trường.
Trong hai năm học đầu tiên (1956-1957 và 1957-1958), vượt qua những thiếu thốn và những khó khăn về nhiều mặt trong buổi đầu xây dựng, cán bộ và sinh viên đã dần dần ổn định nề nếp làm việc, học tập. Việc biên soạn chương trình, giáo trình giảng dạy phù hợp với thực tiễn nước ta. Một số giáo trình tài liệu khoa học của Liên Xô đã được dịch sang tiếng Việt làm tài liệu học tập nghiên cứu cho sinh viên. Cùng thời gian này, một số chuyên gia Liên Xô đã tận tình giúp đỡ đội ngũ cán bộ khoa học nhà trường bồi dưỡng và nâng cao trình độ.
Việc mở rộng quy mô đào tạo và sự ổn định từng bước cơ sở vật chất, cơ cấu tổ chức của nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh phong trào 10 z dạy tốt, học tốt. Quy mô đào tạo của nhà trường ngày càng được mở rộng, số sinh viên chuyển vào trường từ 430 người năm 1956-1957 tăng lên 967 người năm học 1961-1961. Cùng với đó, chất lượng đào tạo cũng ngày càng được đảm bảo. Đến năm 1960-1961, toàn trường đã có 80 giáo trình của hầu hết các môn học.
Đến năm học 1964-1965, “số lượng giáo trình tăng lên nhanh chóng, đạt 203 giáo trình”. Bên cạnh đó, việc xác định mục tiêu đào tạo luôn được đặt ra trong các kỳ đại hội của Đảng bộ và các hội nghị cán bộ công nhân viên chức toàn trường, nhà trường tích cực mời một số chuyên gia giỏi của các nước anh em thuộc hầu hết các ngành sang làm việc để nhanh chóng giúp đỡ nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, nhiều sinh hoạt chuyên đề, trao đổi và tổng kết kinh nghiệm giảng dạy đã được tổ chức nhằ nâng cao chất lượng giảng dạy và chuyên môn cho cán bộ. Trong sinh viên, phong trào tìm chọn phương pháp học tập tốt nhất, phù hợp nhất với yêu cầu học theo lối nghiên cứu ở trường đại học cũng diễn ra sôi nổi. Để kịp thời động viên và khẳng định những cố gắng thành tích chuyên môn của các bộ sinh viên, Ban Giám đốc đã quyết định tổ chức hội nghị khoa học toàn trường lần thứ nhất vào năm 1960 và hội nghị khoa học sinh viên vào năm 1961.
Đây là những hội nghị khoa học đầu tiên của ngành đại học. Điều đó khẳng định vai trò của một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học, một nhà trường có phong trào sinh viên có nghiên cứu khoa học sớm nhất, rộng nhất. Những sinh hoạt học thuật ấy từ đây được duy trì đều đặn hàng năm và đạt được kết quả xuất sắc. Các môn giáo dục chính trị tư tưởng được xác định có vị trí quan trọng trong chương trình đào tạo sinh viên.
Thời lượng các môn học chủ nghĩa Mác - Lênin là 113 tiết trong đó dành một phần cho giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. 11 z Năm học 1964-1965 diễn ra và kết thúc thắng lợi trong cao trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”. Đồng thời đó cũng là năm học kết thức chặng được đầu tiên trong quá trình xây dựng, trưởng thành của trường ĐHTH Hà Nội. Thành tựu chín năm xây dựng và trưởng thành của trường ĐHTH đã tạo ra cơ sở vật chất và tinh thần để nhà trường có thể vươn lên “hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ trong những giai đoạn kế tiếp”[10;13].
Từ năm 1965, các môn lý luận chính trị được quy định là môn thi bắt buộc với sinh viên tốt nghiệp các trường Đại học. Tại Đại học Tổng hợp, Bộ môn Mác-Lê nin được thành lập trong đó có Tổ Lịch sử Đảng. Tổ Lịch sử Đảng đảm nhiệm việc giảng dạy môn Lịch sử Đảng cho sinh viên toàn trường, “vận dụng theo chương trình, giáo trình của trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương” [10;13]. Hình thức đào tạo tại chức được tiếp tục mở rộng.
Các khoa Văn, Sử, Sinh vật đã mở các lớp bồi dưỡng chuyên đề cho gần 300 học viên. Để tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, đưa phong trào nghiên cứu khoa học vào nề nếp, tháng 5-1966 phòng Nghiên cứu khoa học được thành lập. Cũng trong thời gian này, để mở rộng ảnh hưởng của khoa học cơ bản đối với đòi sống xã hội, trường đã quyết định thành lập “Hội phổ biến khoa học kỹ thuật”. Mỗi khoa thành lập một chi hội, tích cực tuyên truyền phổ biến kinh nghiệm khoa học cho cán bộ sinh viên trong trường và nhiều cơ quan, đơn vị, nhân dân địa phương nơi sơ tán.
Hơn 4 năm sống trên rừng núi Bắc Thái, gian nan vất vả, nhưng thầy và trò trường ĐHTHHN vững vàng trước mọi thử thách chủ động sáng tạo và hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị của mình. Đến giữa năm 1970, toàn trường đã trở về cơ sở cũ ở Hà Nội. Giữa lúc nhà trường đang dân đi vào thế ổn định thì tháng 4-1972 đế quốc Mỹ lại ồ ạt ném bom miền Bắc, tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai. Trước 12 z tình hình đó, nhà trường nhanh chóng thích ứng với tình hình thời chiến.
Từ năm 1972, thực hiện chỉ thị 222/TTg của Thủ tướng Chính phủ, công tác nghiên cứu khoa học và phục vụ thực tế của trường ĐHTHHN bước sang giai đoạn mới. Nhà trường nhanh chóng đón nhận chỉ thị trên nền tảng thuận lợi, hầu hết các khoa đang triển khai nhiều đề tài nghiên cứu thực tế. Sau đợt học tập đầu tiên, hầu như cả trường đã ra quân trên một diện rộng từ khu IV đến Lạng Sơn, trên nhiều địa bàn ác liệt, của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đến năm 1973 toàn trường tập trung về Hà Nội.
Trong tình hình cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang tiến nhanh tới ngày toàn thắng, Đại học Tổng hợp Hà Nội cũng bước vào năm học 1974- 1975 với nhiều thay đổi mau lẹ. Ngay từ tháng 3-1973, Đại hội Đảng bộ nhà trường lần thứ 11 đã xác định rõ nhiệm vụ quan trọng của trường trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng, nhà trường đã mở rộng thêm một bước hệ thống đào tạo, tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu tổ chức. Năm học 1974-1975, nhà trường mở thêm khoa kinh tế-chính trị và ngành Lịch sử Đảng (Khoa Lịch sử ). Đội ngũ cán bộ giảng dạy của nhà trường lên tới “585 người, trong đó có 145 tiến sĩ, phó tiến sĩ” [10; 27].
Thời kỳ này nhà trường đã nâng thời gian đào tạo lên 4 năm rưỡi. Việc biên soạn giáo trình và cải tiến chương trình giảng dạy cho phù hợp với yêu cầu mới trở nên cấp bách. Về phía Khoa Lịch sử, Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (tháng 1- 1973), Khoa Lịch sử rời Dũng Liệt- Hà Bắc trở về Hà Nội. Khoa tổ chức cho sinh viên nhanh chóng ổn định nơi ăn ở, học tập và đi lao động, thực tập thực tế, nhiều đoàn cán bộ, sinh viên đã vào các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh và vùng giải phóng Quảng Trị để nghiên cứu, lấy tư liệu làm luận án tốt nghiệp.