Nghiên cứu luận án tiến sĩ về kịch nói Nam Bộ ở TP.HCM

Luận án tiến sĩ phân tích kịch nói ở thành phố hồ chí minh nhìn từ đặc điểm văn hóa nam bộ, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho ngành.

Trường đại học

Trường Đại Học Trà Vinh

Chuyên ngành

Văn Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

319
9
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về kịch nói Nam Bộ

Kịch nói Nam Bộ, một loại hình nghệ thuật quan trọng, đã có lịch sử hình thành và phát triển hơn 150 năm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Được du nhập từ văn hóa phương Tây vào cuối thế kỷ XIX, kịch nói nhanh chóng trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người dân địa phương. Tuy nhiên, nghiên cứu về kịch nói ở đây vẫn còn thiếu, đặc biệt là dưới góc nhìn văn hóa học. Luận án tiến sĩ này nhằm mục đích làm rõ những đặc điểm văn hóa Nam Bộ thể hiện trong kịch nói, từ đó khẳng định vị trí của nó trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân. Đặc điểm văn hóa Nam Bộ, với tính sông nước, tính dung hợp và tính linh hoạt, đã được phản ánh rõ nét qua các tác phẩm kịch nói ở thành phố này.

1.1. Lịch sử hình thành kịch nói tại TP.HCM

Kịch nói được biết đến lần đầu tiên tại Sài Gòn vào cuối thế kỷ XIX, khi quân đội Pháp đặt chân tới đây. Tuy nhiên, trước năm 1975, không có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về loại hình nghệ thuật này. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, với sự xuất hiện của nhiều nghệ sĩ từ các miền khác nhau, kịch nói đã có sự phát triển mạnh mẽ, thu hút đông đảo khán giả. Sự phát triển của kịch nói không chỉ diễn ra trên sân khấu mà còn được các phương tiện truyền thông và báo chí quan tâm, tạo nên một bức tranh đa dạng về nghệ thuật này.

1.2. Đặc điểm văn hóa Nam Bộ trong kịch nói

Văn hóa Nam Bộ có những đặc trưng riêng biệt ảnh hưởng đến nội dung và hình thức của kịch nói. Tính sông nước thể hiện qua các đề tài, ngôn ngữ và thiết kế mỹ thuật sân khấu. Tính dung hợp được thể hiện rõ qua việc kết hợp các yếu tố văn hóa truyền thống và hiện đại, tạo nên sự đa dạng trong các tác phẩm. Tính linh hoạt trong kịch nói cho phép nghệ sĩ sáng tạo và đổi mới, từ đó đáp ứng được nhu cầu và sở thích của khán giả. Những yếu tố này không chỉ làm phong phú thêm kịch nói mà còn khẳng định giá trị văn hóa của vùng đất Nam Bộ.

II. Tình hình nghiên cứu kịch nói tại TP

Tình hình nghiên cứu kịch nói tại TP.HCM hiện nay đang gặp nhiều thách thức. Mặc dù có sự gia tăng về số lượng các công trình nghiên cứu, nhưng hầu hết đều thiếu tính hệ thống và chưa đi sâu vào phân tích văn hóa. Luận án này nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu kịch nói, từ đó chỉ ra những khoảng trống và cần thiết phải có các nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm văn hóa Nam Bộ trong kịch nói. Sự thiếu hụt này không chỉ ảnh hưởng đến việc phát triển kịch nói mà còn làm giảm giá trị của nó trong bối cảnh văn hóa hiện đại.

2.1. Các công trình nghiên cứu trước đây

Trước đây, các công trình nghiên cứu về kịch nói chủ yếu tập trung vào lịch sử và các nghệ sĩ nổi bật, nhưng thiếu sự chú ý đến bối cảnh văn hóa mà kịch nói đang hoạt động. Chỉ một số ít công trình đề cập đến ảnh hưởng của văn hóa Nam Bộ đối với kịch nói, và phần lớn các nghiên cứu này mang tính chất mô tả hơn là phân tích. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các nghiên cứu chuyên sâu hơn để làm rõ mối liên hệ giữa kịch nói và văn hóa địa phương.

2.2. Tình hình nghiên cứu hiện nay

Hiện nay, có một số nghiên cứu mới bắt đầu tiếp cận kịch nói từ góc độ văn hóa học, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Việc thiếu các phương pháp nghiên cứu đa dạng và sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn khiến cho các công trình chưa thể hiện đầy đủ giá trị của kịch nói trong văn hóa Nam Bộ. Do đó, luận án này không chỉ bổ sung vào kho tàng nghiên cứu mà còn định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo về kịch nói tại TP.HCM.

III. Phân tích đặc điểm văn hóa Nam Bộ trong kịch nói

Đặc điểm văn hóa Nam Bộ được thể hiện qua nhiều khía cạnh trong kịch nói, từ nội dung đến hình thức biểu diễn. Tính sông nước không chỉ là một chủ đề mà còn là một phần của ngôn ngữ và phong cách dàn dựng. Kịch nói ở TP.HCM thường khai thác những câu chuyện gắn liền với cuộc sống hàng ngày của người dân, từ đó tạo ra sự gần gũi và dễ tiếp cận với khán giả. Ngoài ra, tính dung hợp trong kịch nói cho phép nghệ sĩ kết hợp nhiều yếu tố văn hóa khác nhau, từ âm nhạc đến mỹ thuật, tạo nên những tác phẩm phong phú và đa dạng.

3.1. Tính sông nước trong kịch nói

Tính sông nước được thể hiện rõ nét trong các vở kịch thông qua thiết kế mỹ thuật sân khấu và ngôn ngữ thoại kịch. Các nghệ sĩ thường sử dụng hình ảnh của dòng sông, cây cối và các yếu tố tự nhiên để tạo ra bối cảnh cho vở diễn, từ đó mang đến cho khán giả cảm giác gần gũi với quê hương. Ngôn ngữ thoại cũng thường mang âm hưởng của tiếng nói địa phương, tạo nên sự sinh động và hấp dẫn cho các nhân vật.

3.2. Tính dung hợp trong kịch nói

Kịch nói tại TP.HCM thể hiện tính dung hợp qua việc kết hợp giữa các thể loại nghệ thuật khác nhau. Nhiều vở kịch đã sử dụng âm nhạc dân gian, các điệu hát truyền thống và các yếu tố nghệ thuật biểu diễn khác để làm phong phú thêm nội dung. Điều này không chỉ giúp kịch nói trở nên hấp dẫn hơn mà còn tạo ra một không gian nghệ thuật đa dạng, phản ánh sự giao thoa văn hóa của vùng đất Nam Bộ.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: việc nghiên cứu lịch sử sân khấu Việt Nam từ xưa đến nay; Chương II: Sân khấu Việt Nam thời kỳ sơ khai tiến tới hoàn chỉnh một loại hình nghệ thuật (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV); Chương III: Sân khấu Việt 12 Nam - từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVIII; Chương IV: Sân khấu Việt Nam - Thế kỷ XIX. Trong mỗi chương tùy theo diện mạo sân khấu từng thời kỳ mà các tác giả đã có những đề cập tới các mặt bối cảnh lịch sử, xã hội, ảnh hưởng đến diện mạo chung của nền sân khấu. Tuy nhiên, công trình chỉ đề cập đến các loại hình sân khấu truyền thống chưa đề cập đến sân khấu kịch nói Việt Nam và thời gian nghiên cứu cũng đã quá xa. Phan Trọng Thưởng với công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Kịch bản kịch nói Việt Nam 1900-1945 (2009), gồm 1213 trang, lần đầu tiên công bố gần như toàn bộ những kịch bản kịch nói nổi tiếng của Việt Nam trong giai đoạn này.

Từ những kịch bản đầu tiên của kịch nói Việt Nam như “Chén thuốc độc”, “Tòa án lương tâm” của Vũ Đình Long đến kịch bản của những tác giả: Hoa Sơn Nguyễn Sơn Kim (Bạn và vợ), Tương Huyền (Nặng nghĩa tớ thầy), Đảnh Sơn (Thế tình hài kịch), Vi Huyền Đắc (Uyên ương, Cô Đốc Minh, Kim Tiền, Ông Ký Cóp),… Đáng chú ý là có sự thay đổi trong cách trình bày kịch bản (văn học kịch) từ chữ Sen (tiếng Pháp là: Scéne) được thay thành chữ Lớp (ngày nay gọi là Lớp diễn khi dàn dựng). Đây chính là sự thay đổi thú vị dưới góc độ văn học kịch của kịch nói Việt Nam giai đoạn này. Tuy nhiên công trình không có tác phẩm nào của kịch nói Nam Bộ - Sài Gòn trong giai đoạn này, thời gian công bố và tác phẩm cũng quá xa hiện tại. Tất Thắng với Lý luận kịch (2009), đã giúp người đọc hiểu hơn về vị trí, vai trò quan trọng, tính chất đặc trưng cơ bản của kịch bản văn học, nhận diện rõ hơn về kịch với tư cách là tác phẩm văn học đặt trong quan hệ với sân khấu trình diễn.

Một vở kịch được đánh giá hay bao gồm cả chất lượng của văn bản và khả năng biểu diễn của người nghệ sĩ. Một tác phẩm sân khấu nói chung và kịch nói nói riêng phải dựa trên các yếu tố cơ bản của vở diễn đó là: kịch bản của tác giả và kỹ thuật biểu diễn của diễn viên. Công trình cũng chỉ nói đến vấn đề lý luận kịch chung, chưa có những dẫn chứng từ kịch nói Nam Bộ -Tp.HCM, cũng như chưa đề cập đến các đặc trưng còn lại của nghệ thuật kịch nói như: khán giả, đạo diễn…Phạm Thị Hà trong luận án tiến sĩ Nghệ thuật học “Tính hiện đại trong kịch nói Việt Nam về đề tài lịch sử” (2014), đã cung cấp những lý luận chung về tính hiện đại trong văn học và nghệ thuật sân khấu. Tác giả đưa ra danh sách 38 kịch bản kịch nói Việt Nam về đề tài lịch sử và danh mục 18 vở diễn về đề tài lịch sử tại các liên hoan sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc.

Trong đó có các kịch bản của tác giả đang sinh sống và làm việc tại Nam Bộ - Tp.HCM như: Lê Duy Hạnh (Độc thoại đêm, Hoàng hậu hai vua, Dời đô, Nỏ thần…), Lê Chí Trung (Đời luận anh hùng, Đêm của bóng tối,…). Tuy nhiên tác giả chưa đưa ra 13 được sự khác biệt về kịch nói về đề tài lịch sử được sáng tác và biểu diễn trên sân khấu Tp.HCM thì có gì khác biệt với kịch lịch sử được viết và dàn dựng trên sân khấu phía Bắc. Công trình cũng chưa đưa ra được những đặc trưng văn hóa Nam Bộ được phản ánh trong những vở kịch lịch sử trên các sân khấu tại Thành phố như thế nào, đây là điểm trống để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu. Cao Thị Xuân Ngọc, trong luận án Tiến sĩ nghệ thuật học “Ảnh hưởng của thể hệ stanislavski với sân khấu Việt Nam” (2016), đã nêu, phân tích và khẳng định những giá trị của thể hệ Stanislavski - một yếu tố ảnh hưởng ngoại sinh - đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của sân khấu kịch Việt Nam.

Tác giả cho rằng trong quá trình phát triển, sân khấu kịch Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại sinh, nhưng sâu đậm nhất là của Thể hệ Stanislavski. Dùng chính những lý thuyết của Stanislavski như: Lý thuyết về “Sân khấu hiện thực chủ nghĩa”, “Nghệ thuật biểu diễn hiện thực tâm lý”, “Hệ thống những bài học về đạo diễn”, “Biểu diễn thể nghiệm và thể hiện, “Đạo đức của người nghệ sĩ sân khấu”, tác giả đã mô tả và nêu lên những thành tựu của sân khấu kịch Việt Nam đã Việt hóa thành công Thể hệ này. Tác giả cũng cảnh báo tình trạng nghiệp dư hóa sàn diễn và cho rằng sân khấu kịch Việt Nam hiện nay cần được “học lại” bài học về thái độ cống hiến, tinh thần nghệ thuật của Thể hệ để sân khấu kịch Việt Nam tiếp tục phát triển chuyên nghiệp. Nghiên cứu về kịch nói ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh Trần Văn Khải công trình Nghệ thuật sân khấu Việt Nam: Hát bội, Cải lương, thoại kịch, thú xem diễn kịch (1970), tác giả đề cập đến sân khấu của miền Nam với các nội dung: giới thiệu về Hát bội, Cải lương, giai đoạn manh nha ra đời của thoại kịch (tân kịch).

Đáng chú ý, ở chương thứ ba có nội dung đề cập đến hoạt động của các ban kịch như: Dân Nam, Tân Dân Nam, Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Bích Sơn, Vũ Huân, Vũ Đức Duy… và một số gương mặt khả ái được yêu thích trên sân khấu kịch nói lúc bấy giờ như: Túy Phượng (ban kịch Tân Dân Nam), Thẩm Thúy Hằng (ban Thẩm Thúy Hằng), Kim Cương, Túy Hồng, Túy Hoa, Kiều Hạnh, Hương Xuân, Bạch Lan, Bạch Trường, Kiều Oanh, Bảy Ngọc, Phương Loan, Bích Thủy, Bích Sơn. Chương thứ tư tác giả bàn luận về Thú xem diễn kịch của người Sài Gòn nói riêng và người miền Nam ở các đô thị nói chung. Buổi đầu hình thành, kịch nói Nam Bộ non nớt trong học thuật, thiếu lý luận; các diễn viên kịch đầu tiên phần lớn là diễn viên Cải lương chuyển sang, hoặc là những ca sĩ. Giai đoạn này kịch nói chủ yếu diễn các tiết mục ngắn đan xen trong chương trình tạp kỹ.

Trần Văn Giàu - Trần Bạch Đằng (chủ biên) với công trình Địa chí 14 Văn hóa Tp.HCM - tập III, Nghệ Thuật (1998), trong đó phần nghiên cứu về kịch nói đáng chú ý có các bài viết của Hoàng Như Mai giới thiệu những cột mốc đầu tiên về sự hình thành và phát triển của kịch nói tại Sài Gòn - Tp. Sau ngày 30/4/1975 sự bổ sung lực lượng nghệ sĩ từ chiến khu ra, từ ngoài Miền bắc vào cộng với các nghệ sĩ tại nội thành của Sài Gòn - Tp.HCM đã tạo nên một diện mạo mới cho sân khấu kịch nói tại nơi đây. Kịch Kim Cương được xem như một dấu ấn đặc biệt của kịch Nam Bộ trong tiến trình kịch nói tại Sài Gòn - Tp. Các mô hình/phương thức sân khấu: Sân khấu nhỏ, Sân khấu hài, cũng như tiến trình lịch sử của kịch nói trên vùng đất Sài Gòn - Tp.HCM là những nội dung chúng tôi sẽ kế thừa.

Trần Trọng Đăng Đàn với công trình 23 năm cuối của 300 năm văn hóa, nghệ thuật Sài gòn - Tp.HCM (1998), với 831 trang, gồm tập hợp các bài tiểu luận, phê bình, nghiên cứu của tác giả về nhiều vấn đề văn hóa nghệ thuật của Tp.HCM từ sau năm 1975 đến 1998. Đây là giai đoạn vàng son, sôi động bậc nhất của sân khấu Tp.HCM mà trong đó kịch nói đã trở thành một loại hình nghệ thuật đầu tàu, chủ đạo và được yêu thích nhất; Sự thành công của Sân khấu nhỏ 5B, ra đời của sân khấu XHH đầu tiên, cũng như thành công của những vở diễn trên sân khấu lớn với sức chứa hàng ngàn người như nhà hát Hòa Bình. Những thống kê về các đề tài, chủ đề mà sân khấu kịch nói Tp.HCM phản ánh trong giai đoạn này, mang đậm thực tiễn, đó cũng là nội dung mà chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ bởi kịch nói luôn phản ánh thực tiễn xã hội. Nguyễn Thị Minh Thái với công trình Sân khấu và tôi (1999), đã đề cập đến nghệ thuật sân khấu của nước nhà trong nhiều bài viết được tập hợp trong cuốn sách dày 600 trang.

Đáng chú ý là các bài viết về kịch nói ở Tp.HCM đã cung cấp một nguồn tư liệu quý giá là những: ghi nhận, phản ánh, nhận định sắc sảo về sân khấu kịch, kịch bản văn học, khán giả kịch ở thành phố trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến 1999. Bên cạnh những thành công thì công trình cho thấy vẫn còn những trở lực mà trước hết là chất lượng nghệ thuật của kịch bản văn học và chất lượng các vở diễn. Lê Thị Thanh Thủy với luận văn Sân khấu nhỏ trong đời sống văn hóa ở Tp.HCM thời kỳ đổi mới (2003), tác giả đã giới thiệu được sự ra đời và phát triển của mô hình sân khấu nhỏ tại Tp.HCM giai đoạn từ năm 1984 đến năm 2003. Đã “hệ thống hóa” lý luận về sân khấu nhỏ, những đặc điểm và những hình thức quản lý của nó trong đời sống văn hóa Tp.HCM thời kỳ đổi mới.

Trong đó tác giả có nhấn mạnh đến sự ra đời cũng như vai trò tiên phong của Sân khấu 5B đơn vị sân khấu XHH đầu tiên của cả nước đã có những đóng góp tích cực trong quá trình tạo nên một hình thức biểu diễn mới mang tên sân khấu nhỏ 15 tại Việt Nam. Trần Trọng Đăng Đàn Nghệ thuật sân khấu và đời sống văn hóa-sân khấu Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XXI: Nghiên cứu và quan sát từ Sài Gòn -Tp. Công trình nghiên cứu gồm 1049 trang với 6 nội dung chính: (1) Nghệ thuật sân khấu một cái nhìn tổng thể; (2) Nhận diện nghệ thuật sân khấu và đời sống văn hóa- sân khấu qua một số cuộc thi, hội diễn, liên hoan sân khấu; (3) Nhận diện nghệ thuật sân khấu và đời sống văn hóa - sân khấu qua một số vở diễn; (4) Nhận diện nghệ thuật sân khấu và đời sống văn hóa - sân khấu qua nghiên cứu những thành quả nghệ thuật; những nhận định, đánh giá; những quan điểm, quan niệm; những tâm tư nguyện vọng của chính các nghệ sĩ sân khấu; (5) Những nét nổi bật trên bức tranh toàn cảnh đời sống văn hóa - sân khấu và nghệ thuật sân khấu Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI nhìn lại và đây cũng chính là phần kết luận của cuốn sách.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu luận án tiến sĩ về kịch nói Nam Bộ ở TP.HCM" của tác giả Huỳnh Công Duẩn, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Lê Chí Quế và TS Mai Mỹ Duyên, được thực hiện tại Trường Đại Học Trà Vinh vào năm 2022. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh từ góc độ văn hóa Nam Bộ, góp phần làm rõ những đặc điểm văn hóa độc đáo của khu vực này. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về kịch nói mà còn mở ra những cơ hội để hiểu biết thêm về văn hóa và nghệ thuật của Nam Bộ.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của nghệ thuật biểu diễn tại TP.HCM, bạn có thể tham khảo bài luận án tiến sĩ "Luận án tiến sĩ về phát triển khán giả sân khấu cải lương tại TP Hồ Chí Minh: Nghiên cứu nhà hát Trần Hữu Trang". Nghiên cứu này cũng tập trung vào lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, đặc biệt là cải lương, và vai trò của khán giả trong việc phát triển nghệ thuật này tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Việc đọc các tài liệu liên quan như vậy sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về văn hóa nghệ thuật Nam Bộ và hiểu rõ hơn về sự phát triển của các hình thức nghệ thuật tại khu vực này.