đặt vấn đề, một cách lý giải, một cách đạo đức, hoặc/và một cách xử lý nào đó” [25]. Việc áp dụng lý thuyết này trong phần lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự dé phân tích hình ảnh, biểu tượng trên truyền thông khá hữu dụng, bởi hình anh hay biểu tượng là một phương thức đóng khung rất mạnh vào tiềm thức của công chúng độc giả. Đóng khung là cách hữu hiệu dé báo chí truyền thông về thông điệp của các hình ảnh theo ý đồ, mục tiêu mà cơ quan báo chí ấn định. Điểm lưu ý trong cách tiếp cận này là khán giả cũng có “khung” nhận thức của riêng họ, do kinh nghiệm và kiến thức cá nhân trước đó của họ.
Do đó, đề tìm hiểu về quá trình xây dựng thông điệp hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử đương đại, tác giả không chỉ tiến hành khảo sát báo chí mà còn tiễn hành đánh giá tương tác của công chúng, quan điểm của công chúng về các thông điệp về hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam được thê hiện trên các tác phẩm báo chí điện tử. Thứ ba, lý thuyết cấu trúc — chức năng: Việc cả XH hành động theo một xu hướng chung, thống nhất đều liên quan đến vai trò của truyền thông trong việc kiểm soát thông tin truyền thông. Khi quyết định truyền đi một thông điệp, các cơ quan truyền thông sẽ tính đến các yếu tố định hướng dư luận trong đó, sao cho tạo ra cơ bản những quan điểm thống nhất, có lợi cho XH. Thêm vào đó, khi các cá nhân riêng lẻ cùng có chung một sự quan tâm - là các thông tin được truyền thông cung cấp, sẽ đưa ra các quan điểm đánh giá, nhận định, nhận xét và tiến tới các cá nhân có sự liên kết với nhau.
Việc sử dụng chức năng của TTDC mà cụ thể ở đây là báo 19 điện tử để tuyên truyền về hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam đặt ra yêu cầu cần phải tạo ra được một sự thống nhất chung về quan điểm đánh giá, nhận định, nhận xét về nữ nghệ sỹ Việt Nam trong toàn XH. Chức năng tiếp theo của truyền thông có thé ké đến chính là việc xây dựng, định hình các chuẩn mực XH. Thông qua việc cho đăng những loại tin tức tốt, xấu khác nhau theo những bình luận, các nhà truyền thông có thé định hướng nhận thức, quan điểm của công chúng, nhằm xác định ranh giới của các chuẩn mực đạo đức trong XH. Đối với chức năng này, khi báo điện tử xây dựng hệ thống các tin tức phản ánh về nữ nghệ sỹ Việt Nam có thể cân nhắc đưa tin tốt và những tin chưa tốt về nữ nghệ sỹ Việt Nam.
Bởi vì, những thông điệp tích cực sẽ có chức năng lan tỏa, gây dựng thiện cảm, là chuẩn mực, hình mẫu dé các nghệ sỹ Việt Nam theo, dé tạo niềm tin, tình cảm cho nhân dân; những tin tức chưa tốt về nữ nghệ sỹ Việt Nam được đăng tải kèm theo quan điểm, chủ trương minh bạch, không bao che của các cơ quan chức năng sẽ làm giải tỏa những căng thắng của nhân dân. Với TTDC, Robert Merton (1910 — 2003) — một nhà chức năng luận, đã nhận định: những ảnh hưởng XH của các phương tiện TTDC sẽ bao gồm chức năng công khai và chức năng tiềm an. Chức năng công khai được hiểu là mục tiêu mà nha truyền thông muốn hướng tới khi thực hiện truyền đi những thông điệp của mình. Tuy nhiên, nhà truyền thông sẽ không thể ngờ tới những hiệu quả xảy ra từ chính những thông điệp, đó chính là chức năng tiềm an.
Ví dụ, việc báo điện tử chú trọng quá nhiều tin tức ca ngợi hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam và họ tin rằng đó chính là cách thức tốt nhất dé xây dựng nên hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam. Trong khi những trải nghiệm thực tế của người dân với nữ nghệ sỹ Việt Nam không hoàn toàn tốt đẹp đó có thé trở thành phản chức năng, đem lại những hiệu ứng truyền thông mà có lẽ không bao giờ tính tới. Với tư cách là một thiết chế XH, TTĐC (trong đó bao gồm cả báo điện tử) hoàn toàn có thê thiết lập một vị thế, vai trò công khai đối với nhân vật đang được hướng tới nhằm xây dựng, định hình trở thành những hình tượng, biểu tượng đối với công chúng. Tuy nhiên, một điểm lưu ý là theo tinh thần của thuyết cấu trúc — 20 chức năng, hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam được định hình, truyền tải phải nhăm vào mục đích góp phan giúp cho hệ thống cân bằng, 6n định va phát triển.
dé dam bảo được điều đó, nhân vật và hình ảnh nhân vật những nữ nghệ sỹ Việt Nam cần phải được xây dựng, định hình trên tinh thần mối quan tâm, chung của số đông, xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của XH, cộng đồng. Như vậy, vận dụng lý thuyết cau trúc — chức năng vào luận văn tác giả có thể xây dựng nên nội hàm của khái niệm hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam. Đồng thời, đánh giá vai trò của báo điện tử đối với xây dựng, truyền tải và kết quả truyền thông về hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử hiện nay. Phương pháp nghiên cứu Luận văn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu công cụ như: - Phương pháp nghiên cứu tư liệu: Kê thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đã nghiên cứu về những đề tài có liên quan.
Tổng hợp tất cả các quan điểm lý luận, thực tiễn liên quan đến đề tài từ các văn bản pháp luật, tài liệu khoa học, sách báo, tạp chí. - Phương pháp phân tích nội dung: Nhằm tim hiểu nội dung, cách thức thé hiện thông tin hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử đương đại dưới góc độ người nghiên cứu báo chí. Về mặt định lượng, phân tích nội dung văn bản giúp tìm hiểu tần suất, mức độ xuất hiện của thông tin hình anh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử đương đại. Trên cơ sở đó so sánh, nghiên cứu và đưa ra những đánh giá khách quan và khoa học.
- Phương pháp khảo sát, thong kê, đánh giá: được tác giả vận dụng dé làm sáng tỏ thực trạng thông điệp hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử đương đại trên các báo: Báo Phụ nữ Online; Báo Tuổi trẻ Online; Báo điện tử VnExpress; đồng thời đưa ra đánh giá về những ưu điểm, hạn chế. - Phương pháp điều tra xã hội học (bảng hỏi anket): phương pháp này được áp dụng đối với công chúng sử dụng báo điện tử đang sinh sống và làm việc ở Hà Nội (được lựa chọn một cách ngẫu nhiên tại các quận: Hoàn Kiếm, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng). Tác giả phát 250 phiếu điều tra cho công chúng (được lựa chọn ngẫu 21 nhiên). Bảng hỏi đưa ra từ 10 — 15 câu hỏi để khảo sát đánh giá của công chúng hiện nay về thông tin hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử đương đại; đo lường mức độ và phạm vi tác động của thông tin về hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử tới tư duy, lối sống, thâm mỹ.
của họ; đo lường sự thay đổi thói quen trong việc tiếp nhận thông tin của công chúng., từ đó, giúp tác giả so sánh và hệ thống được những tác động hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử đối với các nhóm khác nhau ở Việt Nam. - Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả thực hiện với các nhóm đối tượng sau: Công chúng báo chí sử dụng báo điện tử đang sinh sống và làm việc ở Hà Nội, dung lượng mẫu phỏng vấn sâu được xác định là 10 người, bao gồm: các nhà nghiên cứu, chuyên gia, lãnh đạo và phóng viên các tòa soạn báo. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6. Ý nghĩa lý luận Dựa trên thành tựu nghiên cứu của những nhà khoa học đi trước, luận văn xác lập mối quan hệ giữa văn hóa và báo chí; van đề thông tin hình anh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử; mô hình thông tin về hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử; các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin về hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là một minh chứng về lợi thế đặc thù của loại hình báo điện tử khi thông tin về hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam; vai trò và tác động to lớn của thông tin về hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam đối với đời sông hiện đại nói chung, đối với công chúng và chính những người nữ nghệ sỹ Việt Nam nói riêng; thé hiện sứ mệnh của báo điện tử trong việc truyền thông về văn hóa Việt. Việc thực hiện đề tài góp phần tìm hiểu một yếu tố quan trọng trong việc thông tin về hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử. Ý nghĩa thực tiễn Đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo được nhiệm vụ xuyên suốt của báo chí Việt hiện đại là truyền thống văn hóa Việt Nam, về giới nghệ sỹ và truyền thống một cách có văn hóa, phù hợp với giá trị văn hóa Việt Nam. Đề tài thành công sẽ làm tài liệu tham khảo tin cậy cho những nhà nghiên cứu, sinh viên, học viên các 22 chuyên ngành báo chí và những ai quan tâm đến lĩnh vực này.
Bố cục luận văn Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ Lục, Nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương sau đây: Chương 1: Cơ sở lý luận của việc thông tin về hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử đương đại Chương 2: Thực trạng thông tin về hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử được khảo sát Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về hình ảnh nữ nghệ sỹ Việt Nam trên báo điện tử trong thời gian tới 23 CHƯƠNG 1: CƠ SO LÝ LUẬN CUA VIỆC THONG TIN VE HÌNH ANH NU NGHE SY VIET NAM TREN BAO DIEN TU DUONG DAI 1. Một số khái niệm công cụ liên quan 1. Hình ảnh Thuật ngữ “Hình ảnh” có nguồn gốc từ tiếng latinh “Imago” và có quan hệ mật thiết với một từ Latinh khác là “Imitari” - ding dé chỉ sự mô phỏng, phỏng theo.