lời mở đầu, tác giả viết: bản báo cáo này nhằm miêu tả sơ qua một vài pho tượng tìm thấy ở Bắc Kỳ vào năm 1929 trong các cuộc khảo sát. Trong công trình của mình, khi nghiên cứu lăng mộ nhà Lê ở Lam Kinh, Ed Castagnol chỉ ra mối liên hệ tới nghi thức mai táng ở Trung Hoa và điều đặc biệt là chính tác giả cũng tìm ra điểm khác biệt so với lăng mộ của Trung Hoa như: - Tầm quan trọng của đường linh đạo (con đường linh thiêng) và các tượng thờ giảm dần theo thời gian từ Hậu Lê sang đời Nguyễn (đường linh đạo ngắn đi và các con vật thiên về trang trí) - Ở một số lăng mộ người Việt, sự sắp xếp thẳng hàng, đăng đối của các di vật ở gần trục nấm mộ và đường linh đạo là điều ở Trung Hoa kiêng kị. - Nét điển hình về sự khác biệt giữa hai hệ thống tượng là ý thức chủ đạo trong cách thể hiện tượng người và thú. Ở tượng lăng mộ người Việt có những phỏng tác với vẻ gần gũi và hài hòa cùng thiên nhiên.
Năm 1968 đoàn công tác của Viện Mỹ thuật có bản Báo cáo về chuyến đi nghiên cứu Lam Sơn, Thanh Hóa của nhóm nghiên cứu mỹ thuật cổ đại [131], trong đó có một số kết luận đáng chú ý về nghệ thuật kiến trúc lăng mộ, tượng lăng mộ như sau: luan an 17 - Chỉ trong một thời gian ngắn của TK XV, nghệ thuật đã có sự chuyển biến rõ rệt về phong cách, đó là trường hợp từ lăng vua Lê Thái Tổ đến lăng vua Lê Thánh Tông, Lê Hiển Tông. - Việc bố trí lăng với hai dãy tượng đá đối xứng nhau không phải là bắt chước các vua nhà Minh bởi các thời kỳ trước không thiếu gì cách bố trí như vậy, như tượng Kim Cương ở chùa Long Đọi; những con sấu đá ở các lăng vua Trần, tượng thú ở chùa Phật Tích… - Tượng ở lăng mộ (khu Lam Kinh) còn giữ được những hình khối, đường nét của nghệ thuật truyền thống như tượng lân, tê giác… Trong cuốn Mỹ thuật thời Lê sơ [135], nhóm tác giả đã đưa ra nhận định về kiến trúc, tượng lăng mộ: Từ đơn giản, sơ sài ở các lăng đầu TK XV đến có phần hoa mỹ hơn ở các lăng cuối TK XV, đầu thế kỷ XVI… và ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo tăng dần, còn tính chất dân gian giảm dần. Năm 2003 tác giả Lê Cường với công trình Tượng người thờ trong di tích [33], công trình đề cập đến tượng người thờ, đặt bia hậu. trong di tích.
Đây là công trình nghiên cứu bước đầu đi sâu vào tìm hiểu về giá trị mỹ thuật, tín ngưỡng qua trang phục, vóc dáng của tượng người thờ. Từ những khảo sát thực tế, ông mong tìm những giá trị nhân văn, thẩm mỹ và cách tạo tượng người trong nền mỹ thuật truyền thống Việt Nam. Mặc dù đối tượng nghiên cứu của công trình (tượng người thờ trong di tích) xuất hiện ở cả chùa, đình, đền, miếu và chủ yếu tập trung vào một số tượng TK XVII., nhưng cách tiếp cận và phân tích của công trình giúp NCS có thêm những tư liệu cần thiết để tham khảo cho luận án của mình. Năm 2004 tác giả Nguyễn Huy Hạnh thực hiện đề tài Lăng đá Hà Bắc - kiến trúc và điêu khắc [46].
Trong công trình này, ông cũng đã dành hai mục trong chương 3 để tìm hiểu về nghệ thuật tượng lăng mộ. Dù nghiên cứu theo hướng khảo cổ học nhưng ông có những nhận xét về cách tạo hình của tượng: Nhiều khi cứ thấy tượng quan hầu đứng gần ngựa hoặc voi thì người ta gọi là Giám mã hay quản tượng và viết là quan hầu dắt ngựa… Theo thiển ý của luan an 18 chúng tôi thì gọi thế không chính xác vì giữa chúng không có một mối liên hệ nào với nhau: Ngựa đủ yên cương, đứng yên, voi nằm chầu phục, người đứng tiêu binh cầm vũ khí hoặc thủ tay trong áo thì không thể là Giám mã hoặc Quản tượng được… [46, tr 116] và tác giả cũng đưa ra quan điểm: Phải gọi sự vật bằng cái tên của nó. Đây là quan điểm cần thiết khi xác định bản chất của tượng bởi nhiều khi lệ thuộc vào hình thức sẽ dễ dẫn đến sai lầm về nội dung, tư tưởng mà tượng muốn gửi lại cho thế hệ sau. Năm 2008 tác giả Phạm Ngọc Tuấn có công trình nghiên cứu Lăng đá Lại Yên (xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũ, nay là Hà Nội) [121].
Với cách tiếp cận của đề tài từ góc nhìn văn hóa học nên kết quả nghiên cứu của đề tài tập trung vào những giá trị kiến trúc nghệ thuật tại lăng đá Lại Yên, nhằm mục đích góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của di tích. Trong luận văn này, phần tượng chủ yếu tập trung khảo sát là tượng chó đá, voi đá, tượng ngựa và giám mã (nằm ở phần 2. Nghệ thuật tượng tròn). Công trình Mỹ thuật thời Chúa Nguyễn - dẫn luận từ Di sản lăng mộ [116] của tác giả Nguyễn Hữu Thông chủ biên đã dẫn liệu nhiều tư liệu quý về nghệ thuật tạo hình Triều Nguyễn và giới thiệu những đặc trưng mỹ thuật thời kỳ này, đặc biệt là các không gian, thành phần kiến trúc lăng mộ.
Bên cạnh đó, hệ thống hình ảnh minh họa của công trình là nguồn tài liệu giúp NCS có thêm những nhận thức về nghệ thuật thời kỳ này, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến kiến trúc, điêu khắc và trang trí lăng mộ thời Nguyễn. Như vậy, qua các tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, chưa có một công trình nào nghiên cứu về nghệ thuật tượng lăng mộ quận công TK XVII - XVIII vùng ĐBBB theo hướng tiếp cận mỹ thuật học. Việc nghiên cứu về nghệ thuật tượng trong lăng mộ trước đây chủ yếu dưới hình thức khảo tả của từng trường hợp lăng mộ, chưa đặt chúng vào hệ thống trong không gian nghệ thuật nên chưa đưa ra đầy đủ được những đặc trưng nghệ thuật, cũng như lý giải đầy đủ được sự hình thành những đặc trưng này. Ngoài ra, những công trình nghiên cứu trước đây chưa đưa ra được những lý giải về sự biến luan an 19 đổi nghệ thuật tượng trong lăng mộ qua các thời kỳ và yếu tố nào tác động đến sự biến đổi này.
Do đó, với đối tượng nghiên cứu và mục đích của đề tài “Nghệ thuật tượng lăng mộ Quận công thế kỷ XVII - XVIII ở ĐBBB” của NCS sẽ góp phần giải quyết những vấn đề chưa được đề cập và giải quyết hết ở các công trình nghiên cứu đã nêu ở trên. Khái niệm Để triển khai nội dung luận án một cách khoa học, NCS xin làm rõ một số khái niệm như sau: * Khái niệm về nghệ thuật Trong Từ điển Tiếng Việt ghi về nghệ thuật: “Hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng tình cảm. Nghệ thuật tạo hình. Xây dựng hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học” [94, tr 871].
“Nghệ thuật là sự phát triển cao nhất của lý trí, là sự kết thúc của triết học. Nghệ thuật là sản phẩm tinh thần của cái tôi chủ quan - đó là cái tôi siêu nhiên nghĩa là ở bên kia ý thức và nhận thức”. “Nghệ thuật tìm kiếm hình ảnh được tạo ra từ cuộc sống, từ thế gian và nhất là từ phẩm tính mà nó vừa biến dạng vừa nâng cao quá trình tìm kiếm cho cái đẹp” [67, tr 31]. Như vậy, mỗi giai đoạn lịch sử, một thời kỳ văn hóa thường sản sinh một nền nghệ thuật riêng biệt về nội dung và hình thức.
Do đó, những nét riêng đã tạo nên giá trị điển hình phản ánh thực tế của chính thời kì đó. * Khái niệm lăng mộ Trong từ điển Britanica, tập 2, đề cập đến thuật ngữ lăng mộ được chia ra gồm hai phần: lăng và mộ: lăng là ngôi mộ lớn, đầy ấn tượng, đặc biệt một công trình bằng đá với những vị trí chôn cất người chết phía trên mặt đất. và cho rằng những lăng mộ hàm chứa nhiều hoài bão [145, tr 1542]; Mộ là nơi an nghỉ hay nhà dành cho người chết. Thuật ngữ này được dùng để chỉ chung cho tất cả những loại phần mộ, bia kỷ niệm an táng, đài tưởng niệm.
Các gò luan an 20 mộ chôn cất thời tiền sử hay nấm mồ (các gò đồi nhân tạo bằng đất và đá chất thành đống trên di hài người chết), thường được xây xung quanh một cái chòi có chứa các đồ dùng cá nhân để dùng cho cõi âm [145, tr 1821]. Trong từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 2, đề cập đến thuật ngữ lăng mộ và được hiểu là công trình cất giữ thi hài của những nhân vật quan trọng. Ở Trung Quốc, theo sách “Thủy kinh chú” đời Tần, mộ vua gọi là sơn, đời Hán gọi là lăng, nên thường gọi là sơn lăng. Ở Việt Nam, từ nhà nước Văn Lang đến nhà nước Đại Nam có nhiều lăng như thế.
Trong công trình nghiên cứu Lăng đá Hà Bắc - Kiến trúc và điêu khắc của tác giả Nguyễn Huy Hạnh [46, tr 46], dưới góc nhìn của ngành khảo cổ học, ông đã đề cập đến một số tên gọi về loại hình di tích này như sau: * Phần: Vốn là đống đất lớn, sau này phần và mộ được gộp lại là phần mộ để chỉ mồ mả. * Mộ: Là cách gọi chung nơi chôn cất các bậc Vương giả, Hoàng tộc ngày xưa, sau chỉ chung nơi chôn người chết. * Gò: Nghĩa gốc là núi đất, thời Xuân Thu gọi mộ là gò (khưu), sau ghép với mộ. Sách “Chu lễ” có viết “kích thước của mộ (khưu phong) là theo tước vị, đẳng cấp’’.
* Lăng, nghĩa gốc là núi đất lớn, về sau gọi mộ Đế vương là lăng, cung điện ở khu mộ táng đế vương được gọi là lăng tẩm. Đời Lý gọi phần mộ Đế vương là Sơn lăng (khu Sơn lăng cấm địa ở Đình Bảng, xứ Kinh Bắc là nơi chôn cất 8 vị vua nhà Lý - Lý Bát Đế) [46, tr 46].