Chương 1 NGƯỜI TÀY VÀ ĐẶC ĐIỂM TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI TÀY Ở TUYÊN QUANG 1. Khái quát chung về tỉnh Tuyên Quang và người Tày ở Tuyên Quang 1. Khái quát chung về tỉnh Tuyên Quang Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam, có vị trí địa lý từ 21030' đến 22041' vĩ độ bắc, từ 104050' đến 105035' độ kinh đông. Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hà Giang; phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc; phía Đông và Đông Bắc giáp các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn và Thái Nguyên; phía Tây giáp tỉnh Yên Bái (Xem bản đồ tỉnh Tuyên Quang 1.
Với vị trí đó, vùng Tuyên Quang là nơi hội tụ nhân dân các dân tộc gồm cư dân các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, miền núi Việt Bắc. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên 5.868 km2, chiếm 1,78% diện tích cả nước. Các đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh là quốc lộ 2 đi qua địa bàn tỉnh dài 90 km từ Phú Thọ lên Hà Giang, quốc lộ 37 từ Thái Nguyên đi qua huyện Sơn Dương, Yên Sơn đi Yên Bái. Nhờ có tuyến giao thông huyết mạch chạy trên địa bàn của tỉnh, Tuyên Quang có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội và giao lưu văn hoá vùng miền với các tỉnh vùng núi bắc bộ, một số tỉnh thuộc trung du và đồng bằng sông Hồng ở phía nam.
Với vị trí địa lý như vậy, cư dân Tày ở tỉnh Tuyên Quang có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đón nhận nhiều luồng văn hóa khác nhau trong quá trình sinh sống. Điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến các loại hình tín ngưỡng dân gian trong đó có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của đồng bào Tày. 8 Bản đồ tỉnh Tuyên Quang Nguồn: Bản đồ tỉnh Tuyên Quang truy cập trên mạng Internet 9 Tỉnh Tuyên Quang có tổng diện tích là 5.868km, bao gồm có một thành phố (Tuyên Quang) và 6 huyện (Chiêm Hoá, Na Hang, Lâm Bình, Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương). Khí hậu nơi đây mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á Trung Hoa có 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh, khô hạn và mùa hè nóng ẩm mưa nhiều; mưa bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 8.
Các hiện tượng như mưa đá, gió lốc thường xảy ra trong mùa mưa bão với lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1. Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 220 - 240 C. Cao nhất trung bình 330 - 350 C, thấp nhất trung bình từ 120 - 130 C; tháng lạnh nhất là tháng 11 và 12 (âm lịch), hay có sương muối. Khí hậu Tuyên Quang khá thuận lợi để phát triển nông nghiệp, tạo nguồn thức ăn phong phú, đa dạng cho quá trình sinh tồn và thực hiện các nghi lễ thờ cúng, trong đó có nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Tày.
Địa hình Tuyên Quang là miền chuyển tiếp từ địa hình núi sang địa hình đồi, trong đó địa hình núi chiếm ưu thế, núi đồi trùng điệp thung lũng sâu. Vùng cao phía bắc có độ cao trung bình 600m so với mặt nước biển, phía nam của tỉnh là vùng đồi núi thấp và các soi bãi rộng màu mỡ cùng các thung lũng lớn. Tuyên Quang có hệ thống sông ngòi dày đặc và phân bố tương đối đồng đều. Toàn tỉnh có khoảng 500 sông suối lớn nhỏ chảy qua các sông chính như: Sông Lô, Sông Gâm, Sông Phó Ðáy.
Mạng lưới sông ngòi của Tuyên Quang có vai trò quan trọng đối với sản xuất và đời sống của dân cư, vừa là giao thông đường thuỷ, vừa là nguồn cung cấp nước cho nông nghiệp, cho nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản. Đặc biệt sông Lô và sông Gâm có tiềm năng về thuỷ điện. Ở các huyện Na Hang, Chiêm Hoá, Sơn Dương đã xuất hiện một số công trình thuỷ điện nhỏ phục vụ sinh hoạt, góp phần nâng cao đời sống văn hoá cho nhân dân các dân tộc trong đó có người Tày. Người Tày thường cư trú dọc các con sông, suối.
Họ biết tận dụng nguồn nước trong quá trình sinh hoạt, sản xuất. Tuy nhiên, vào mùa mưa ngập lụt xảy ra cũng đe dọa rất lớn đến sản xuất và đời sống của người dân. Tuyên Quang có thảm thực vật phong phú và đa dạng, nhiều loại động vật mang đặc trưng của vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Thực vật bao gồm đinh, lát, lim, 10 mỡ, bạch đàn, tre, nứa, vầu, cây thuốc.
Động vật có hươu, nai, lợn rừng, nhím, sóc, cầy, chim, gà lôi, ong. Tuy nhiên, đến nay tài nguyên rừng đã bị khai thác nhiều, trữ lượng gỗ thấp. Hiện nay, đất rừng đang được đồng bào gây trồng với chương trình 135. Tài nguyên khoáng sản chủ yếu là quặng, thiếc, mangan, đá vôi, đất sét, than.
Kinh tế của tỉnh với sản xuất nông, lâm nghiệp chiếm ưu thế. Nền sản xuất hàng hoá đang trong quá trình phát triển. Mô hình kinh tế trang trại tương đối phát triển. Đến năm 2015, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 14%/năm.
GDP bình quân đầu người đạt 1.300 USD, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Có thể thấy những năm vừa qua Tuyên Quang không ngừng đổi mới và đạt được những kết quả khả quan. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, cơ cấu các ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tạo đà cho việc phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao. Văn hoá, xã hội luôn được tỉnh quan tâm, chú trọng.
Đến nay, toàn tỉnh có trên 70% số thôn, bản, tổ nhân dân đạt danh hiệu văn hoá; trên 80% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá; 97% dân số được phủ sóng phát thanh; 87% dân số được phủ sóng truyền hình. Tuyên Quang đã giải quyết việc làm cho 80.000 lao động, giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới bình quân 3 – 4%/năm. Dân số toàn tỉnh tính đến năm 2013 là 746.700 người, với mật độ 127 người/km2. Dân số trong độ tuổi lao động là 377.314 người, chiếm 50,53% dân số toàn tỉnh.
Trên địa bàn tỉnh có 38 dân tộc cùng sinh sống đan xen, mỗi dân tộc có truyền thống văn hoá riêng, vừa đậm đà bản sắc, đồng thời vừa có sự giao thoa ảnh hưởng lẫn nhau. Trong đó có 12 dân tộc có số dân trên 100 người. Các dân tộc có số dân đông hơn cả là: Kinh (46,22%), Tày (25,59%), Dao (12,5%), Sán Chay (8,46%), Mông (2,34%), Nùng (1,96%), Hoa (0,83%). Có số dân ít hơn là các dân tộc Pà Thẻn, Mường, Thái, La Chí, Gia Rai, Ê Đê, Giáy, Cơ Lao.
Có thể nói, các yếu tố môi trường, tự nhiên, kinh tế, xã hội đều trực tiếp hay gián tiếp chi phối đời sống của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 11 nói chung và đời sống của người Tày nói riêng. Các đặc điểm địa lý, địa hình, đất đai, khí hậu, thủy văn. đã tạo cho khu vực cư trú của đồng bào Tày một tiềm năng phát triển nông, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, cải thiện cuộc sống. Người Tày đã biết tận dụng mọi khả năng do thiên nhiên ban tặng để tổ chức cuộc sống này.
Tuy nhiên, trình độ và phương pháp sử dụng còn thô sơ, lạc hậu nên đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Tày còn thấp kém. Người Tày ở Tuyên Quang Dân tộc Tày có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay và phân bố rải rác ở khắp các tỉnh thượng và trung du Bắc bộ. Về danh xưng Tày là tên đồng bào tự gọi (Theo các nhà dân tộc học thì tên gọi này có từ nửa cuối của thiên niên kỉ thứ nhất sau công nguyên) và ngày nay trở thành tên gọi chính thức của dân tộc thay cho tên gọi là “Thổ” trước kia. Tộc người Tày được hình thành trong mối quan hệ đa dạng, đan xen và giao lưu với các tộc người khác.
Người Tày ở Việt Nam hiện nay là sự tập hợp của nhiều thành phần như người Tày bản địa, người Tày gốc Kinh, người Nùng hóa Tày, bộ phận người Tày gốc Tày, Thái, Nùng từ Trung Quốc di cư sang. Nghiên cứu về người Tày bản địa, qua các tài liệu lịch sử, khảo cổ học, truyền thuyết dân gian…các nhà nghiên cứu trong nước đã cho rằng trong lịch sử xa xưa, một bộ phận người nói ngôn ngữ Tày – Thái cổ đã có mặt ở khu vực Việt Bắc của Việt Nam. Một số cứ liệu và truyền thuyết còn cho rằng. Vào cuối thế kỷ III TCN, thủ lĩnh người Tày cổ là Thục Phán đã lãnh đạo người Âu Việt và Lạc Việt chống lại cuộc xâm lược của quân Tần thắng lợi, lập nên nước Âu Lạc và đóng đô ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội, lấy hiệu là An Dương Vương.
Đây có thể coi là một trong những minh chứng về sự có mặt của người Tày Cổ. Nguyễn Thị Yên trong cuốn “Tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng” cho rằng: “Bộ phận người nói ngôn ngữ Tày - Thái cổ ở vùng thượng du, trải qua thời gian cùng với sự diễn biến của các quá trình lịch sử tộc người, cùng với sự phân định của biên giới Việt - Trung đã dần tách khỏi tộc người - ngôn ngữ Choang vùng Lưỡng Quảng mà hình thành nên tộc người Tày - Thái ở Việt Nam” [73, tr. 12 Theo ông Vũ Ngọc Khánh trong “Văn hóa tín ngưỡng Tày, Nùng” đã nhận định: “Người Tày và người Nùng, cùng thuộc khối cư dân Bách Việt từ xưa, là khối cư dân cư trú lâu đời trên giải đất nam Trung Quốc và bắc Việt Nam. Khi có sự thiết lập đường biên giới hai quốc gia Trung Việt thì nhóm dân cư Tày, Nùng này mới phát triển những nét riêng biệt.
Nhóm cư dân bên này chịu ảnh hưởng văn hoá của người Việt thành nhóm Tày, Nùng. Nhóm bên kia chịu ảnh hưởng của văn hoá người Hán được gọi là nhóm Choang Đồng” [36, tr. Những người “Tày hóa”: Bộ phận người Tày gốc Kinh, yếu tố này làm nên diện mạo văn hóa vô cùng đặc sắc trong văn hóa người Tày. Trong quá trình lịch sử, người Kinh lên cư trú ở vùng người Tày rồi bị đồng hóa thành người Tày đó cũng là điều dễ hiểu.
Một bộ phận người Kinh bị đồng hóa là do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Được bổ nhiệm làm quan, là binh lính được điều lên đồn trú, lánh nạn do bị thất thế, do tha phương tìm nơi làm ăn…Nổi bật nhất là sự kiện vào thế kỷ XVI, nhà Mạc thất thế ở miền xuôi sau đó chạy đi tản loạn lên Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn.