Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam 1. Một số khái niệm - Khái niệm tín ngưỡng: Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm tín ngưỡng. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng khái niệm tín ngưỡng trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Theo luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 “là niềm tin của con người được thê hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống dé mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” [Quốc hội, 2016]. - Tín ngưỡng thờ Mẫu: Trong bài viết Luận bàn về cách phân loại tín ngưỡng thờ Mau, tác giả Vũ Thúy Hằng và Đoàn Thị Hồng Nhung sau khi phân tích các quan niệm của nhiều tác giả khác nhau về cách gọi tên đối với tín ngưỡng thờ Mẫu, đi đến đưa ra quan điểm về khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu: “tín ngưỡng thờ Mẫu là một bộ phận của ý thức xã hội, là tín ngưỡng dân gian bản địa, được hình thành từ chế độ thị tộc Mẫu hệ, thuộc một loại hình tín ngưỡng dân gian thờ nữ thần, để tôn vinh những người phụ nữ có công với nước, với cộng đồng, tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội làm Thánh Mẫu, Vương Mẫu và tiêu biéu là Đức Mẫu Liễu Hanh trong Tam phủ, Tứ phủ. và qua đó người ta gửi gam miền tin vào sự che chở, cứu giúp của các lực lượng siêu nhiên thuộc nữ thần” [Vũ Thúy Hằng, Đoàn Thị Hồng Nhung, 2018, tr. Theo Ban Tôn Giáo Chính Phủ: Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian thuần Việt, có lịch sử lâu đời của người Việt, biến chuyền thích ứng với sự thay đối của xã hội.
Tín ngưỡng thờ Mẫu hướng đến cuộc sống thực tại của con người với ước vọng sức khỏe, tài lộc, may mắn, là một nhu cầu trong đời sống tâm linh của người Việt, mang lại cho họ sức mạnh, niềm tin và có sức thu hút mọi tang lớp trong xã hội. Tâm là giá trị cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu. Mẫu dạy con người sống hướng thiện, có cái tâm trong sáng, biết đối nhân xử thế, thờ phụng ông bà tổ tiên và biết ơn những người có công với dân, với nước [Xem http://btgcp. Do vậy, theo chúng tôi tín ngưỡng thờ Mẫu: “Là một loại hình tín ngưỡng dân gian, lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng được hình thành từ chế độ thị tộc mau hệ, bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ nữ than tuy nhiên không phải tat cả nữ than đều là Mẫu, nhằm tôn vinh những người phụ nữ có công với nước, có công với cộng đồng tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hoá, đạo đức xã hội làm Thánh mẫu, Vương mẫu và do đó họ thờ Mẫu tam phủ, tứ phú khá pho biến.
và Mẫu có các quyên năng sinh sôi, nảy nở, bảo trợ cho con người ”. Với khái niệm thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu là gì, trong các cuốn từ điển về tôn giáo hay Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng không đưa ra. Tuy nhiên, qua nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu thì chúng tôi hiểu như sau: “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu chính là việc thực hiện các hành vi, hoạt động thờ cúng trong tín ngưỡng thờ Mẫu trên cơ sở tuân thủ theo nghỉ thức đã được quy ước và biểu hiện của sự thực hành tín ngưỡng đó chính là các hoạt động tế, lễ, cầu, củng, khan vái, hấu đồng, hau bong trong không gian sinh hoạt tín ngưỡng cụ thể. Nói khác, nó là sự thể hiện niềm tin, lòng thành kính của những người có chung niềm tin vào thánh Mẫu và đó cũng là thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa tin do với thánh Mẫu và giữa tín đồ với tín do” Chúng tôi dùng 2 khái niệm này làm nội hàm triển khai nghiên cứu trong luận văn 1.
Nguồn gốc, không gian thờ cúng và những nghỉ lễ cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu Tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian đã tồn tại lâu đời và phô biến tại Việt Nam. Về nguồn gốc hình thành, một số nhà nghiên cứu cho rằng, tục thờ Mẫu có từ thời Tiền sử khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên kết hợp với tín ngưỡng thờ nữ thần rất phát triển trong xã hội mẫu hệ (gọi nữ thần là Mẹ - Mẫu - Mê). Qua quá trình tiếp biến văn hóa, từ hình bóng các vị thần tự nhiên chuyên sang các nhân thần. Việc tôn thờ Mẫu (Me) làm than tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người của Đạo Mẫu đã dễ dàng đi vào đời sống dân gian, bắt rễ sâu vào xã hội và đời sống tâm linh của mỗi con người.
Khởi nguồn của tín ngưỡng ngày xuất phát từ sự biết ơn đối với người phụ nữ, người mẹ trong nhận thức thuở khai sơ của con người. Đồng thời, đó cũng là thể hiện sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh va thờ phụng những vi nữ thần gan liền với các hiện tượng tự nhiên trong vũ trụ, được nhân dân cho rằng có chức năng sáng tạo, sản sinh, bảo trợ và che chở cho cuộc sống của con người như: Trời, đất, sông, nước, rừng nui. Văn hóa Việt Nam được hình thành từ nền văn hóa nông nghiệp, mà như tác giả Trần Ngọc Thêm đã khăng định là “văn hóa gốc nông nghiệp điển hình” [Trần Ngọc Thêm, 1999, tr.22] với những đặc trưng chủ yếu: Trong ứng xử với môi trường tự nhiên thì do phụ thuộc vào tự nhiên nên hình thành ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với tự nhiên; về mặt nhận thức thì hình hành lối tư duy tổng hợp, tổng hợp kéo theo biện chứng; về mặt tổ chức cộng đồng sống theo nguyên tắc trọng tình. Lối sống trọng tình cảm tất yêu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ.
Đặc biệt văn hóa Việt Nam có một đặc trưng mang tính nổi bật là trọng nữ, người phụ nữ giữ một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, tác giả Trần Ngọc Thêm đưa ra một loạt minh chứng về việc trọng nữ của văn hóa Việt Nam: “Phụ nữ Việt Nam 10 là người quản lý kinh tế, tài chính trong gia đình — người nắm tay hom chìa khóa. Chính bởi vậy mà người Việt Nam coi Nhất vợ nhì trời; Lệnh ông không bang công bà,.; còn theo kinh nghiệm dân gian thì Ruộng sâu trâu nải, không bang con gái dau lòng. Phụ nữ Việt Nam cũng chính là người có Vai trò quyết định trong giáo dục con cái: Phúc đức tại mẫu, Con dại cái mang. Vì tầm quan trọng của người mẹ cho nên trong tiếng Việt, từ cái với nghĩa là “mẹ” đã mang thêm nghĩa “chính, quan trọng”: sông cải, đường cái, đũa cdi, cột cái, trong cái, ngón tay cái, máy cdi.” [Trần Ngọc Thêm, 1999, tr.23] và ông khăng định “Không phải ngẫu nhiên mà vùng nông nghiệp Đông Nam A này được nhiều học giả phương Tây gọi là “xứ sở Mẫu hệ”” [Tran Ngọc Thêm, 1999, tr.23] Quay trở lại với nguồn gốc văn hóa nông nghiệp của Việt Nam dé thay rõ hơn nguồn gốc xa xưa của tín ngưỡng thờ Mẫu.
Việt Nam cũng như nhiều dân tộc khác trong khu vực Đông Nam Á, từ xa xưa cư dân sinh sống chủ yêu băng nông nghiệp với hai hình thức cơ bản là trồng trọt và chăn nuôi nên có mối quan hệ khăng khít với tự nhiên hay chính xác hơn là phụ thuộc lớn vào tự nhiên. Muốn có lúa gạo dé ăn cần có rất nhiều yếu tố của môi trường tự nhiên: đất, nước, mây, mưa, sắm chớp,. vì thế nên ca dao Việt Nam có bài: Người ta đi cay lay công, Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề. Trông trời, trông đất, trông mây Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên, biên lặng mới yên tam lòng Có thể nói với cư dân vùng trồng lúa nước thì môi trường tự nhiên vô cùng quan trọng, cây trồng muốn phát triển phải có đất tốt dé nuôi dưỡng cây, phải có nước để cây phát triển, muốn có nước phải có mưa, muốn có mưa phải có mây, khi mưa có sâm, có chớp,.
chính vì thê các vị thân tự nhiên ra 11 đời. Là các vị thần cai quản các hiện tượng tự nhiên vô cùng gan gũi, chi phối cuộc sống con người: thần Cây, than Dat, thần Mây, than Mưa, than Sam, thần Chớp, thần Nước,. Trồng trọt, chăn nuôi luôn mong cầu sự sinh sôi, nay nở. Gieo hạt thóc xuống mong cầu sinh sôi thành khóm lúa, mỗi cây trong khom lại sinh sôi, nảy nở ra bông lúa triu hạt,.; chăn nuôi mong cầu sự sinh sản phát trién bầy đàn vật nuôi,.
Và hình tượng đại diện, tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở không gì bằng hình tượng người Mẹ. Người Mẹ không chỉ sinh con ra mà còn nuôi dưỡng con bằng dòng sữa ấm áp và tình yêu thương vô bờ bến của mình, rồi cũng chính người mẹ nuôi dạy con cái đến lúc trưởng thanh,. Mẹ là biéu tượng, là nguồn cội của sinh sôi, nảy nở. Viết về điều này, tác giả Ngô Đức Thịnh nhận xét: “Người Việt và các dân tộc khác ở nước ta vốn là cư dân nông nghiệp trồng lúa ở vùng nhiệt đới gió mùa, do vậy, từ ngàn đời nay, từ quan niệm, lối nghĩ đến nếp sống của họ cơ bản vẫn là nông dân.
Quan niệm vũ trụ luận phương Đông cô đại vẫn là âm dương tương khắc, tương sinh. Trong tiềm thức của họ, việc tôn thờ thần Dat, thần Nước, thần Núi, thần Lúa. đều đồng nhất với Âm và nhân hóa thành nữ tính — Mẹ. Hơn thế nữa, nhiều hiện tượng vũ trụ và tự nhiên cũng được người Việt gan cho nữ tinh, ma thuộc tinh cua nó là bao trữ, sinh sôi, sang tao” [Ngô Duc Thịnh, 2012, tr.
Với sự nỗi trội, chiếm ưu thế của “tính nữ” trong văn hóa Việt Nam, tín ngưỡng thờ Nữ thần ở Việt Nam tương đối phố biến. Trong cuốn các nữ than Việt Nam của Đỗ Thị Hảo và Mai Thị Ngọc Chúc đã liệt kê và giới thiệu được than tích, huyền thoại của 75 vị nữ thần tiêu biểu của Việt Nam. Trải dài từ Bắc vào Nam ta sẽ thấy hệ thống di tích thờ nữ thần điển hình: thờ các vi nữ tướng anh hùng: Hai Bà Trung, Bà Triệu, Y Lan, Duong Vân Nga,.; thờ các yếu tố mang tính bản thể của vũ trụ, bà Ngũ Hành: Bà Thủy, Bà Hỏa, Bà Kim, Bà Mộc, Bà Thổ; thờ các hiện tượng tự nhiên: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp LôI,.Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Ngọc, Bà Den, Thiên Hậu, Pô Inu Nưgar,.