chương 1, chúng tôi triển khai ba vấn đề: - Cơ sở lí thuyết của đề tài - Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết Phạm Nhan và tín ngưỡng thờ ác thần - Đánh giá tình hình nghiên cứu và định hướng của đề tài 1. Cơ sở lí thuyết của đề tài 1. Xác định một số thuật ngữ, khái niệm 1. Truyền thuyết Truyền thuyết được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau trên thế giới: tiếng Anh gọi là legend; tiếng Pháp dùng chữ légende và tiếng Đức dùng chữ sage.
Truyền thuyết là từ gốc Hán, nhưng không phải thuật ngữ đã có từ xa xưa ở Trung Quốc. Nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch cho biết: “Theo giới nghiên cứu Folklore Trung Quốc thì đây là một danh từ được chuyển dịch từ thuật ngữ sage trong tiếng Đức” [52,132]. Chữ sage trong tiếng Đức có nghĩa là truyện ngắn về sự kiện trong quá khứ mà không cần có sự đảm bảo về lịch sử. Ở Việt Nam, có lẽ Đào Duy Anh là người sớm sử dụng từ truyền thuyết khi ông viết về vấn đề “Những truyền thuyết đời thượng cổ nước ta”.
Đến những năm 50 của thế kỉ XX, thuật ngữ truyền thuyết đã được sử dụng nhiều hơn. Các tác giả nhóm Lê Quý Đôn trong công trình Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, khi xác định ranh giới giữa thần thoại với truyền thuyết, bước đầu định nghĩa truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là tất cả những chuyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì đảm bảo. Như vậy có những truyền thuyết lịch sử mà cũng có những 9 truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm địa lý (Chuyện nàng Tô Thị, Chuyện Núi Vọng Phu…) hoặc kể lại gốc tích một sự vật gì (Chuyện bánh chưng bánh giầy, Chuyện Trầu Cau), hoặc giải thích phong tục tập quán, hoặc nói về sự tích các nghề nghiệp, và tất cả những chuyện kì lạ khác” [27, 60]. Đến những năm 60, danh từ truyền thuyết cũng như nội dung truyền thuyết dân gian đã trở nên quá quen thuộc với nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, qua cuộc tranh luận khá sôi động về một truyền thuyết cụ thể: truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thủy diễn ra trên Tập san Nghiên cứu văn học (tiền thân của Tạp chí Văn học).
Từ cuối những năm 60 cho đến những năm 70 trở đi, đến những năm cuối thế kỉ XX có nhiều bài báo, công trình khoa học, giáo trình đại học viết về truyền thuyết. Năm 1970, trong giáo trình Văn học dân gian của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đỗ Bình Trị đã định nghĩa: “Truyền thuyết là những truyện cổ dính líu đến lịch sử mà lại có sự kì diệu - là lịch sử hoang đường - hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với lịch sử” [102]. Năm 1971, trong một bài tiểu luận “Truyền thuyết anh hùng trong thời kì phong kiến”, tác giả Kiều Thu Hoạch đã đưa ra một quan niệm về truyền thuyết mà cho đến nay vẫn được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận. Theo ông: “Truyền thuyết là một thể loại truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dung cốt truyện của nó kể lại truyện tích của nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng các yếu tố hư ảo, thần kì như cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗ không nhằm phản ánh xung đột gia đình, sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân mà thường phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia, dân tộc rộng lớn; nó khác thần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứ không phải là hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng” [16].
Năm 2001, giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Lê Chí Quế đã đưa ra định nghĩa: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kì” [97,49]. Vấn đề phân loại truyền thuyết có nhiều khuynh hướng khác nhau. Các nhà folklore Nhật Bản cũng có nhiều cách phân loại khác nhau đối với thể loại truyền thuyết. Trong đó có quan niệm của Seki Keigo, đứng trên lập trường nghiên cứu so sánh để phân loại truyền thuyết.
Ông căn cứ vào hình thái tồn tại và chức năng của 10 truyền thuyết làm tiêu chuẩn phân loại. Theo cách phân loại của ông thì truyền thuyết được chia làm 3 loại: “Truyền thuyết thuyết minh (giải thích sự đời); truyền thuyết lịch sử và truyền thuyết tín ngưỡng. Loại thứ nhất - truyền thuyết thuyết minh bao gồm những loại truyền thuyết về các hiện tượng tự nhiên có liên quan đến thiên thể; những truyền thuyết về nguồn gốc động thực vật; những truyền thuyết về nham thạch, tảng đá, núi, hang núi, đèo dốc, đỉnh nủi, ao chuôm, đầm vực; những truyền thuyết về nguồn gốc các di tích kiến trúc văn hóa, các từ đường v.v… Loại thứ hai - truyền thuyết lịch sử bao gồm những truyền thuyết về các nhân vật lịch sử và những truyền thuyết về các sự kiện lịch sử. Loại thứ ba - truyền thuyết tín ngưỡng bao gồm những truyền thuyết phản ánh tín ngưỡng nảy sinh trong quần chúng về phép ma, về thần núi, thủy thần, thủy quái, về những tinh linh ở ao hồ, long vương, thần rắn, về thần tổ tiên trong các gia đình, về yêu ma, quỷ quái các loại, về người khổng lồ”[52,94].
Đối với giới folklore Trung Quốc tình hình phân loại truyền thuyết cũng chưa có được tiếng nói chung: Có tài liệu thì chia truyền thuyết thành 6 loại (truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết địa phương, truyền thuyết sản vật, truyền thuyết phong tục, truyền thuyết thời sự). Có tài liệu phân loại truyền thuyết gọn gàng hơn, chỉ gồm 3 loại: truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết sự kiện lịch sử, truyền thuyết phong vật địa phương v.v… Ở Việt Nam vấn đề phân loại truyền thuyết cũng có khá nhiều ý kiến khác nhau. Đỗ Bình Trị căn cứ vào sự khác biệt của đối tượng được truyện kể đến và chức năng cụ thể của từng bộ phận để chia thành ba biến thể được định danh gồm: truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ hệ và truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử. Tác giả Lê Chí Quế lại có cách phân loại khác khi chia truyền thuyết thành ba loại: truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết lịch sử và truyền thuyết về ác danh nhân văn hóa.
Tác giả Kiều Thu Hoạch đưa ra một cách phân loại khác. Theo ông, truyền thuyết có thể chia làm hai loại lớn: truyền thuyết nhân vật và truyền thuyết phong vật (phong tục và sản vật). Trong từng loại lại bao gồm nhiều tiểu loại. Truyền thuyết về nhân vật có thể căn cứ vào tính chất của câu chuyện mà chia thành những tiểu loại khác nhau như: truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết phản diện, truyền thuyết tôn giáo (theo nghĩa rộng).
Trong giáo trình Văn học dân gian của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội do NXB Giáo dục xuất bản năm 2012, chương truyền thuyết do Vũ Anh Tuấn chấp bút đã nhóm truyền thuyết thành hai nhóm chính: truyền thuyết danh nhân văn hóa, truyền thuyết về các nhân vật tôn giáo. 11 Để giải quyết được yêu cầu và nhiệm vụ của luận án, chúng tôi dựa vào quan điểm và cách phân loại truyền thuyết của nhà nghiên cứu Nhật Bản Seki Keigo và nhà nghiên cứu folklore Việt Nam Kiều Thu Hoạch. Theo ý của các nhà nghiên cứu thì sự tồn tại của truyền thuyết không phải chỉ để phản ánh lịch sử và tôn vinh những nhân vật anh hùng. Truyền thuyết ra đời và tồn tại còn vì những lí do tâm lí xã hội khác, nhằm phản ánh tín ngưỡng dân gian về lực lượng thần linh, ma quỷ, về thế lực có quyền năng và ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống văn hóa của con người.
Sau này trong công trình nghiên cứu về Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, tác giả Trần Thị An đã lí giải về sự tồn tại của tiểu loại “truyền thuyết tín ngưỡng” hay “truyền thuyết tôn giáo” như sau: “Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam cũng như truyền thuyết thế giới, có một bộ phận truyền thuyết đang được lưu truyền, đang tiếp tục được sáng tạo, tiếp tục nảy sinh không dựa trên nhu cầu bày tỏ sự tôn vinh các biểu tượng lịch sử mà dựa trên nhu cầu tâm lý về sự sùng bái lực lượng siêu hình (mà truyện kể Việt Nam gọi là ma, quỷ, hồn…) hoặc khát vọng giải mã những bí ẩn của đời sống (sự hiện hữu của lực lượng siêu hình trong đời thực) [1,58]. Điều đó càng cho thấy mối liên hệ máu thịt giữa truyền thuyết và các hoạt động tín ngưỡng dựa trên niềm tin vào phép màu nhiệm của thế giới tâm linh. Các truyền thuyết về những nhân vật có phép lạ, có khả năng đặc biệt không cần phải là những anh hùng danh nhân, đôi khi chỉ là những hồn ma, những quỷ thần có thể mang đến vận may hoặc sự trừng phạt đối với người trần. Sự đồn đại về phép lạ của các vị thần linh khiến cho nhiều tầng lớp trong xã hội bị thu hút và hấp dẫn bởi những tin đồn đó: “Nhóm truyền thuyết lan truyền về phép lạ hiện hữu trong đời sống của cộng đồng mà mỗi người, dù ít dù nhiều, đều liên can hoặc tham dự.
Nhóm truyền thuyết này liên quan đến tín ngưỡng dân gian, đến sức mạnh của phép lạ được huyên truyền có thể mang đến vận may hoặc sự phù hộ hay trừng phạt đối với người trần mà lực lượng siêu nhiên mang tới. Tất cả những trải nghiệm đó đều được coi là “bí ẩn của đời sống tâm linh” [1,73]. Niềm tin đối với những sức mạnh thần bí đã lôi kéo được sự tham gia nhiệt thành của nhân dân vào các hoạt động tín ngưỡng như là sự lây lan của hiệu ứng đám đông. Sự ám thị của những điều kì lạ xảy ra trong cuộc sống đối với con người chính là nhu cầu giải tỏa tinh thần và khát vọng nhận được nhiều ân huệ từ thần thiêng.
Như vậy, theo quan điểm của nhà nghiên cứu Nhật Bản Seki Keigo thì truyền thuyết Phạm Nhan thuộc vào loại thứ ba - truyền thuyết tín ngưỡng. Theo cách phân loại của Kiều Thu Hoạch: truyền thuyết Phạm Nhan thuộc tiểu loại truyền thuyết về nhân vật phản diện.